Thứ Hai, 30 tháng 5, 2016

Những hiểu biết cơ bản nhất để trở thành Hacker - Phần 1

Nhiều bạn Newbie có hỏi tôi “Hack là như thế nào? Làm sao để hack?” Nhưng các bạn đã quên mất một điều là các bạn cần phảI có kiến thức một cách tổng quát, hiểu các thuật ngữ mà những người rành về mạng hay sử dụng. Riêng tôi thì chưa thật giỏi bao nhiêu nhưng qua nghiên cứu, tôi cũng đã tổng hợp được một số kiến thức cơ bản, muốn chia sẻ cho tất cả các bạn, nhằm cùng các bạn học hỏi .
Tôi sẽ không chịu trách nhiệm nếu các bạn dùng nó để quậy phá người khác. Các bạn có thể copy hoặc post trong các trang Web khác nhưng hãy điền tiên tác giả ở dưới bài, tôn trọng bài viết này cũng chính là tôn trọng tôi và công sức của tôi, đồng thời cũng tôn trọng chính bản thân các bạn. Trong này tôi cũng có chèn thêm một số cách hack, crack và ví dụ căn bản, các bạn có thể ứng dụng thử và nghiên cứu đọc nó để hiểu thêm, rồi khi bắt gặp một từ mà các bạn không hiểu thì hãy đọc bài này để biết , trong này tôi có sử dụng một số ý của bài viết mà tôi thấy rất hay từ trang Web của HVA và các trang Web khác mà tôi đã từng ghé thăm. Xin cảm ơn những tác giả đã viết những bài ấy. Bây giờ là vấn đề chính . 

1. Ta cần những gì để bắt đầu:

Có thể nhiều bạn không đồng ý với tôi nhưng cách tốt nhất để thực tập là các bạn hãy dùng hệ điều hành Window rồi đến các cái khác mạnh hơn đó là Linux hoặc Unix, dưới đây là những cái bạn cần có :
  • Một OS 
  • Một trang Web tốt 
  • Một bộ trình duyệt mạng tốt 
  • Một công cụ chat tốt 
  • Telnet
  • Cái quan trọng nhất mà bất cứ ai muốn trở thành một hacker là đều phảI có một chút kiến thức về lập trình (C , C++ , Visual Basic , Pert …..

2. Thế nào là một địa chỉ IP?

Địa chỉ IP được chia thành 4 số giới hạn từ 0 - 255. Mỗi số được lưu bởi 1 byte, vì thế IP có kích thước là 4 byte, được chia thành các lớp địa chỉ.
Có 3 lớp là A, B và C. Nếu ở lớp A, ta sẽ có thể có 16 triệu điạ chỉ, ở lớp B có 65536 địa chỉ. Ví dụ: Ở lớp B với 132.25, chúng ta có tất cả các địa chỉ từ 132.25.0.0 đến 132.25.255.255. Phần lớn các địa chỉ ở lớp A llà sở hữu của các công ty hay của tổ chức.
Một ISP thường sở hữu một vài địa chỉ lớp B hoặc C. Ví dụ: Nếu địa chỉ IP của bạn là 132.25.23.24 thì bạn có thể xác định ISP của bạn là ai.
Địa chỉ IP
IP là từ viết tắt của Internet Protocol, trên Internet thì địa chỉ IP của mỗi người là duy nhất và nó sẽ đại diện cho chính người đó, địa chỉ IP được sử dụng bởi các máy tính khác nhau để nhận biết các máy tính kết nối giữa chúng. Đây là lí do tại sao bạn lại bị IRC cấm và là cách người ta tìm ra IP của bạn. 
Địa chỉ IP có thể dễ dàng phát hiện ra, người ta có thể lấy được qua các cách sau :
  • Khi bạn lướt qua một trang web, IP của bạn bị ghi lại 
  • Trên IRC, bất kì ai cũng có thể có IP của bạn 
  • Trên ICQ, mọi người có thể biết IP của bạn, thậm chí bạn chọn Do not show ip, người ta vẫn lấy được nó 
  • Nếu bạn kết nối với một ai đó, họ có thế gõ systat –n và biết được ai đang kết nối đên họ 
  • Nếu ai đó gửi cho bạn một email với một đoạn mã java tóm IP, họ cũng có thể tóm được IP của bạn 

3. Làm thế nào để biết địa chỉ IP của mình?

  • Trong Windows : vào cmd, gõ ipconfig 
  • Trong mIRC: kết nốI đến máy chủ sau đó đánh lệnh /dns 
  • Thông qua một số trang Web có hiển thị IP . 
Gõ lệnh ipconfig vào cmd

4. IP Spoofing là gì?

Một số IP có mục đích để xác định một thiết bị duy nhất trên thế giới. Vì vậy trên mạng một máy chủ có thể cho phép một thiết bị khác trao đổi dữ liệu qua lại mà không cần kiểm tra máy chủ.
IP Spoofing
Tuy nhiên có thể thay đổi IP của bạn, nghĩa là bạn có thể gởi một thông tin giả đến một máy khác mà máy đó sẽ tin rằng thông tin nhận được xuất phát từ một máy nào đó (tất nhiên là không phải máy của bạn). Bạn có thể vượt qua máy chủ mà không cần phải có quyền điều khiến máy chủ đó. Điều trở ngại là ở chỗ những thông tin phản hồi từ máy chủ sẽ được gởi đến thiết bị có IP mà chúng ta đã giả mạo. Vì vậy có thể bạn sẽ không có được sự phản hồi những thông tin mà mình mong muốn. Có lẽ điều duy nhất mà spoof IP có hiệu quả là khi bạn cần vượt qua firewall, trộm account và cần giấu thông tin cá nhân.

5. Trojan, worm, virus, logicbomb là gì?

  • Trojan : Nói cho dễ hiểu thì đây là chương trình điệp viên được cài vào máy của người khác để ăn cắp nhũng tài liệu trên máy đó gửi về cho chủ nhân của nó. Cái mà nó ăn cắp có thể là mật khẩu, accourt hay cookie ... tuỳ theo ý muốn của người cài nó . 
  • Virus : Nói cho dễ hiểu thì đây là chương trình với những mã đặc biệt được cài (hoặc lây lan từ máy khác) lên máy của nạn nhân và thực hiện những yêu cầu của mã đó, đa số virus được sử dụng để phá hoại dữ liệu hoặc máy tính. 
  • Worm: Đây là chương trình độc lập có thể tự nhân bản bản thân nó và lây lan khắp bên trong mạng .Cũng giống như Virus, nó cũng có thể phá hoại dữ liệu hoặc nó có thể phá hoại bên trong mạng, thậm chí còn làm sập cả mạng đó. 
  • Logicbomb: Là chương trình gửi một lúc nhiều gói dữ liệu cho cùng một địa chỉ, làm ngập lụt hệ thống, tắc nghẽn đường truyền (trên server) hoặc dùng làm công cụ để “khủng bố” đối phương.
Trojan, virus, worm

6. PGP là gì?

PGP là viết tắt của từ “Pretty Good Privacy”, đây là công cụ sử dụng sự mã hoá chìa khoá công cộng để bảo vệ những hồ sơ Email và dữ liệu, là dạng mã hoá an toàn cao sử dụng phần mềm cho MS_DOS, Unix, VAX/VMS và cho những dạng khác.
Pretty Good Privacy

7. Proxy là gì?

Proxy, Server Proxy hay Proxy Server (cũng là 1), chúng ta có thể hiểu nôm na là 1 chiếc máy tính khác có nhiệm vụ xử lý dữ liệu, giống như 1 bộ chuyển đổi thông tin của tín hiệu Internet. Bằng việc kết nối qua 1 hoặc nhiều những chiếc server như trên, ban đầu máy tính của người dùng - bạn sẽ gửi đi những tín hiệu yêu cầu - request qua proxy server, tại đây những thông tin đó sẽ được xử lý và trả lại những gì bạn thấy mỗi khi truy cập vào Internet
Proxy Server
Theo cách hiểu này, thì Proxy đóng vai trò trung gian giữa chiếc máy tính bạn đang sử dụng với toàn bộ môi trường Internet bên ngoài. Bên cạnh đó, Proxy còn được dùng để lọc, ngăn chặn các website, hoặc chính xác hơn là những nội dung website tùy theo nhu cầu của chính phú, các nhà cung cấp dịch vụ...

Đọc để tìm hiểu thêm về Proxy là gì!

8. Unix là gì?

Unix là một hệ điều hành (giống Windows) .Nó hiện là hệ điều hành mạnh và thân thiết với các Hacker nhất. Nếu bạn đã trở thành một hacker thật sự thì HĐH này không thể thiếu đối với bạn. Nó được sử dụng hỗ trợ cho lập trình ngôn ngữ C .
Hệ điều hành Unix

9. Telnet là gì?

Telnet là một chương trình cho phép ta kết nối đến máy khác thông qua cổng (port). Mọi máy tính hoặc máy chủ (server) đều có cổng, sau đây là một số cổng thông dụng :
  • Port 21: FTP 
  • Port 23: Telnet 
  • Port 25: SMTP (Mail) 
  • Port 37: Time 
  • Port 43: Whois 
Kết nối Telnet
Ví dụ : bạn có thể gọi Telnet để kết nốI đến mail.virgin.net trên port 25 . 

10. Làm thế nào để biết mình đã Telnet đến hệ thống Unix?

Đầu tiên, khi bạn gọi Unix, thông thường nó sẽ xuất hiện một dấu nhắc: “Log in:”, (tuy nhiên, chỉ với như vậy thì cũng chưa chắc chắn đây là Unix được ngoạI trừ chúng xuất hiện thông báo ở trước chữ “ log in :” như ví dụ : Welcome to SHUnix. Please log in ….)
Bây giờ ta đang ở tại dấu nhắc “log in”, bạn cần phảI nhập vào một account hợp lệ. Một account thông thường gồm có 8 đặc tính hoặc hơn, sau khi bạn nhập account vào, bạn sẽ thấy có một mật khẩu, bạn hãy thử nhập Default Password thử theo bảng sau : 
Account/Default Password
Root/ Root
Sys/Sys/System / Bin
Bin/Sys / Bin
Mountfsy/Mountfsys
NuucAnon
Anon/Anon
User/User
Games/Games
InstallInstall
DemoDemo
GuestGuest 
Theo quantrimang.com

Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2016

Tự tạo NAS từ máy tính cũ




Với một máy tính cũ không dùng đến, hệ điều hành FreeNAS, chúng ta sẽ tự tạo một kho dữ liệu nối mạng (Network-attached storage hay NAS) linh hoạt với chi phí thấp nhất.

Kho dữ liệu nối mạng (Network-attached storage hay NAS), trên thực tế là ổ cứng ngoài, kết nối qua giao tiếp mạng và cho phép các máy tính trong mạng sử dụng các tập tin chung. Thiết bị này phổ biến trong các công ty lớn và đang chiếm lĩnh thị trường văn phòng nhỏ cũng như gia đình nhờ giá ngày càng hấp dẫn hơn.

Hình 1. Giao diện web của FreeNAS có rất nhiều tính năng, có cả soạn thảo tập tin.
Ngoài sử dụng dữ liệu đồng thời từ nhiều máy tính, NAS còn có vài điểm mạnh khác so với ổ cứng USB. Thứ nhất, NAS hỗ trợ mã hóa tập tin và có chương trình RAID để tạo ra dữ liệu dự phòng. Thứ hai, NAS thường có nhiều dịch vụ như FTP, CIFS/SMB, SSH… do đó hỗ trợ máy khách với các hệ điều hành khác nhau. Việc kết nối qua giao tiếp mạng thay cho USB tạo ra khả năng truy cập tới dữ liệu từ Internet ở bất kỳ nơi nào.
Trên thị trường hiện có bán sẵn những thiết bị NAS có thương hiệu. Nhưng ở đây chúng ta sẽ tự tạo một NAS với chi phí thấp nhất, nếu bạn có một máy tính cũ không dùng đến. Nhờ hệ điều hành FreeNAS, dựa trên FreeBSD, những tính năng kể trên có thể cấu hình một cách dễ dàng, với phần cứng không yêu cầu cao.
Các hệ điều hành dòng FreeBSD không thân thiện với người dùng như các hệ điều hành khác, nhưng bù lại có tính ổn định và bảo mật cao. Người dùng Linux sẽ dễ dàng làm quen với các khái niệm của FreeBSD hơn người dùng Windows. Tuy nhiên, nếu bạn là người dùng Windows thì cũng đừng quá lo, vì FreeNAS có giao diện web mạnh với rất nhiều tính năng (hình 1), giải quyết được vấn đề thân thiện trên. Hơn nữa, sau khi cấu hình xong máy chủ FreeNAS (tiếp theo sẽ gọi tắt là FreeNAS), hệ thống sẽ tự động cung cấp dữ liệu mà không cần đến thao tác từ phía người dùng. Những công việc cấu hình sau này sẽ được thực hiện qua mạng nhờ giao diện web.
FreeNAS có kích thước rất nhỏ. Phiên bản mới nhất tới thời điểm này là 0.7, có thể lấy về từ trang sourceforge.net, dung lượng chưa đến 80 MB. Bạn có thể chọn cài đặt hệ thống lên ổ cứng, hoặc lên ổ USB, thậm chí chạy thẳng từ CD để không chiếm chỗ trên ổ cứng, dành hết ổ cứng cho dữ liệu. Chúng tôi khuyên nên tách riêng hệ thống và dữ liệu, để vẫn có khả năng chạy hệ thống khi ổ cứng bị trục trặc và dữ liệu sẽ không bị ảnh hưởng khi cập nhật hay cài lại hệ thống.
Yêu cầu đối với phần cứng
Hình 2. Quản lý ổ cứng trong FreeNAS.
Như đã đề cập đến ở trên, FreeNAS không yêu cầu phần cứng cao:
* Máy tính với 128MB RAM có thể khởi động được từ ổ CD hoặc USB.
* Ổ USB hoặc thẻ nhớ Flash để lưu cấu hình.
* Một hoặc vài ổ cứng cho dữ liệu.
Trong trường hợp của mình, tôi có một máy tính cũ không hỗ trợ khởi động từ USB, nên chọn chạy thẳng FreeNAS từ đĩa CD (LiveCD). Xin lưu ý, khác với phần lớn các bản phân phối LiveCD của Linux, FreeNAS sẽ nạp toàn bộ hệ thống vào RAM. Sau khi khởi động xong, bạn có thể sử dụng ổ CD/DVD cho các công việc khác. Ngoài ra, tài liệu của FreeNAS cho biết cấu hình trong trường hợp sử dụng LiveCD sẽ được đọc và ghi lên đĩa mềm. Trên thực tế, FreeNAS tự động nhận ra ổ USB đã gắn vào máy tính trước khi khởi động và dùng nó thay thế cho ổ mềm. Sử dụng USB Flash tất nhiên là an toàn hơn (thường có tuổi thọ cao hơn).
Yêu cầu đối với ổ cứng rất rõ ràng: Bạn cần bao nhiêu không gian thì trang bị bấy nhiêu. Tuy nhiên, tùy theo khả năng tài chính bạn nên tính trước nhu cầu của mình trong 1-3 năm. Nếu muốn cấu hình RAID thì cần ít nhất 2 ổ cứng (trong đa số các trường hợp) cùng một dung lượng.

Hình 3. Gắn ổ cứng vào hệ thống.
Trong trường hợp cần mua ổ cứng mới mà máy tính cũ không có cổng SATA, trong khi các ổ cứng SATA hiện nay có tỷ lệ giá/dung lượng rất hấp dẫn, bạn có thể gắn thêm SATA controller vào khe PCI, ví dụ, FreeNAS hỗ trợ thẻ ST-Lab A-224 (chipset SIL-3114), gồm 4 cổng SATA II và 2 cổng e-SATA. Tuy nhiên, nếu máy tính của bạn có một thiết bị PCI khác, ví dụ card mạng, thì chúng sẽ chia sẻ tốc độ của khe PCI.
Ngoài giao tiếp của ổ cứng (SATA hay IDE), bạn còn cần quyết định chọn kích thước 2,5" hay 3,5". Chọn ổ cứng kích thước nhỏ 2,5" (thường có dung lượng nhỏ hơn) nếu bạn cần sự gọn gàng và số lượng nhiều để làm RAID. Chọn kích thước lớn hơn nếu bạn cần dung lượng (tại thời điểm hiện thời ổ cứng 3,5" dung lượng 1,5TB có giá rất hấp dẫn) và thùng máy cho phép. Sau khi chuẩn bị xong phần cứng và khởi động FreeNAS, bạn có thể mở trình duyệt trên một máy tính bất kỳ trong mạng nội bộ (LAN), gõ địa chỉ IP của máy FreeNAS theo mặc định trong phiên bản 0.7 là 192.168.1.250, sẽ hiện ra trang đăng nhập vào giao diện web với tên người dùng và mật khẩu theo mặc định là admin/freenas. Chúng ta sẽ thay đổi tên người dùng và mật khẩu, cũng như giao thức truy cập. Vấn đề này sẽ được đề cập đến ở phía sau trong mục Bảo mật.
Cấu hình ổ cứng
Hình 4. Tạo RAID JBOD từ hai ổ cứng đã định dạng.
Không cần phải bàn cãi, ổ cứng chính là phần quan trọng nhất của NAS. Mọi cấu hình cho ổ cứng trên FreeNAS được thực hiện qua trình đơn Disks. Bạn có nhiều lựa chọn, trong đó phổ biến nhất đối với NAS gia đình là hai khả năng: Dùng RAID và dùng ổ cứng riêng rẽ.
1. Không dùng RAID. Ổ đĩa cứng được dùng riêng rẽ giống như vẫn thường dùng trên máy tính cá nhân. Cũng như trường hợp máy tính cá nhân, đầu tiên bạn cần định dạng ổ cứng trong Disks>Format, chọn định dạng hệ thống tập tin mà FreeNAS hỗ trợ như UFS (Unix File System). Sau đó, thêm ổ cứng vào hệ thống qua Disks>Management (hình 2). Hai thao tác này có thể đổi chỗ cho nhau. Sau mỗi thao tác nếu cần thiết FreeNAS sẽ nhắc bạn phải nhấn nút «Apply changes» để lưu lại cấu hình.
Khác với máy tính cá nhân dùng hệ điều hành Windows, bạn cần thực hiện thêm một thao tác - gắn ổ cứng (tiếng Anh gọi là “mount”) trong Disks>Mount Point (hình 3). Theo mặc định ổ cứng sẽ được gắn vào thư mục con của /mnt — /mnt/mount_point_name.

Hình 5. Cấu hình dịch vụ Samba. Trên tất cả các trang cấu hình dịch vụ đầu tiên cần chọn nút «Enable».
2. Dùng RAID. Chúng ta sẽ thử tạo ra một hệ thống RAID đơn giản JBOD. Bạn cần thêm hai ổ cứng chưa định dạng trên trang Disks>Management. Sau đó định dạng từng ổ cứng với hệ thống tập tin "Software RAID". Bây giờ, chúng ta sẽ tạo JBOD từ những ổ cứng đó trong Disks>Software RAID (hình 4). JBOD là viết tắt của Just a Bunch Of Disks - chỉ là một tập hợp đĩa bình thường không có sao lưu cũng như sự tăng tốc độ đọc/ghi, cho phép dùng các đĩa có dung lượng khác nhau.
Sau khi tạo JBOD, cần định dạng nhóm đĩa như một ổ cứng thông thường rồi gắn chúng vào hệ thống tập tin chung (xem phần 1).
Cuối cùng, trang Disks>Encryption cho phép mã hóa những dữ liệu cần tính bảo mật cao. Như vậy, chỉ sử dụng giao diện web của FreeNAS, người dùng có thể điều khiển các chức năng có liên quan đến ổ đĩa. Dần dần chúng ta sẽ thấy mọi chức năng khác của NAS đều có thể thực hiện qua giao diện web. Ví dụ, sự quản lý các dịch vụ.
Các dịch vụ
Sau khi cấu hình xong ổ cứng hay nhóm ổ cứng RAID, chúng ta cần chia sẻ chúng với các máy tính trong mạng bằng các dịch vụ. FreeNAS hỗ trợ nhiều dịch vụ chia sẻ tập tin khác nhau, do đó máy khách có thể chạy Windows, Linux hay các hệ điều hành phổ biến khác.
1. CIFS/SMB
Hình 6. Các chia sẻ của Samba.
Trang cấu hình dịch vụ CIFS/SMB (Samba) có nhiều tùy chọn nhưng không quá phức tạp (hình 5). Dành một chút thời gian nghiên cứu bạn có thể hiểu chúng một cách dễ dàng.
Sau đó cần thêm các chia sẻ như ở hình 6. Khi thêm một chia sẻ bằng nút «Add» hình dấu cộng +, hai tùy chọn quan trọng nhất là đường dẫn tới thư mục (Path) và tên (Name).
Và bạn đã có thể kết nối tới các chia sẻ này theo cách thường dùng (hình 7).
Đến đây bạn có thể dừng đọc nếu chỉ quan tâm đến sử dụng FreeNAS để làm kho dữ liệu thông thường. Những thông tin ở sau yêu cầu bạn đọc có kiến thức cơ bản về mạng máy tính, nhưng giúp tìm hiểu cách truy cập tới NAS cũng như dữ liệu từ Internet mà vẫn giữ được tính bảo mật.
2. FTP và SSH
Giao thức truyền tập tin (File Transfer Protocol hay FTP) cách đây không lâu là cách trao đổi tập tin qua Internet phổ biến nhất. Trình FTP có thể tìm thấy trên tất cả các hệ điều hành phổ biến. Cấu hình máy chủ FTP trên FreeNAS nằm trên trang Services>FTP. Thông thường bạn có thể dùng những cấu hình theo mặc định.
SSH (Secure Shell) là giao thức dùng để thiết lập kết nối mạng có mã hóa gói dữ liệu. Ngoài ra, đường hầm SSH (ssh tunneling) còn có khả năng mã hóa các gói dữ liệu của các giao thức không hỗ trợ bảo mật (như Samba và FTP).
Trên trang Services>SSH chọn «Enable» rồi nhấn nút «Save and Restart» để tạm thời dùng những cấu hình mặc định của SSH. Chúng ta sẽ quay lại với SSH trong phần Bảo mật ở dưới.
Dịch vụ BitTorrent

Hình 7. Kết nối tới các chia sẻ của Samba từ máy tính chạy Windows Vista.
BitTorrent hiện là giao thức được sử dụng rộng rãi nhất để chia sẻ tập tin trên Internet. Có nhiều trường hợp, việc có hay không có giao thức này là yếu tố quyết định để lựa chọn NAS. Hỗ trợ của BitTorrent trên FreeNAS được bắt đầu từ phiên bản 0.69b2 với chương trình ctorrent. Đến phiên bản FreeNAS 0.69b3 nó được thay thế bởi Transmission và chương trình này được sử dụng cho tới nay.
Xin lưu ý, để sử dụng BitTorrent cũng như các dịch vụ có liên quan tới Internet, bạn cần phải thêm địa chỉ IP của máy chủ DNS (có thể dùng địa chỉ của thiết bị định tuyến router - thường là 192.168.1.1) vào phần «DNS Settings» trên trang System>General Setup.
Cấu hình dịch vụ BitTorrent nằm trên trang Services>BitTorrent (hình 8). Để các máy khác có thể lấy dữ liệu từ máy của bạn, ngoài thiết lập DNS còn cần thay đổi số cổng («Peer Port»), nếu cổng mặc định 51413 bị tường lửa của router chặn. Bạn có thể lựa chọn mở cổng đó trên router hoặc đổi nó thành một cổng khác (ví dụ, 31929), và đừng quên đánh dấu vào «Port Forwarding», cũng như chọn thư mục cho cấu hình trong «Configuration Directory», nếu không sẽ bị mất mọi thông tin về các torrent sau khi khởi động lại từ LiveCD.
Giống như những dịch vụ kể trên, sau khi nhấn nút «Save and Restart», BitTorrent sẽ khởi động. Transmission có giao diện web theo mặc định tại địa chỉ http://192.168.1.250:9091, nhưng có nhiều điểm hạn chế hơn so với giao diện web của máy chủ FreeNAS, tuy nhiên vẫn đáp ứng những nhu cầu tối thiểu. Nếu thích mày mò, bạn có thể sử dụng phần mềm nguồn mở Transmission Remote GUI để thay thế. Phần mềm này chạy trên nhiều hệ điều hành khác nhau, có nhiều tính năng hơn và nhanh hơn giao diện web (hình 9).
Bảo mật
NAS là một thiết bị của mạng máy tính, do đó tất nhiên nảy sinh ra câu hỏi: Làm sao để bảo vệ NAS cũng như giữ kín thông tin khi truy cập trong mạng nội bộ cũng như từ Internet? Rất may là hệ điều hành FreeNAS có tất cả các công cụ bảo mật cần thiết.
Hình 8. Cấu hình dịch vụ BitTorrent.
Đầu tiên, để bảo vệ FreeNAS, cần thay đổi mật khẩu của tài khoản quản trị hệ thống (admin và root sử dụng chung một mật khẩu) trên trang System>General>Password. Hãy dùng một mật khẩu mạnh gồm cả chữ cái, số và các ký hiệu nếu cần truy cập từ Internet. Lưu ý, người dùng nhóm wheel có thể chạy câu lệnh su để lấy quyền quản trị của root nếu biết mật khẩu này.
Tiếp theo, thay đổi tên tài khoản quản trị (theo mặc định là admin) để bảo vệ hệ thống khỏi kiểu tấn công theo từ điển, cũng như dùng giao thức https thay cho giao thức theo mặc định http để bảo mật truy cập tới giao diện web trên trang System>General Setup.
Cuối cùng, cấu hình lại dịch vụ SSH: Không sử dụng kết nối bằng mật khẩu (không dùng «Enable keyboard-interactive authentication»), thay vào đó tạo và thiết lập để kết nối có khóa (SSH key), cho phép tạo đường hầm SSH (chọn «Permit to do SSH Tunneling»). Tất nhiên, bạn sẽ cần tạo một tài khoản người dùng bình thường (Access>Users), và nếu có thiết bị định tuyến router thì còn phải thiết lập cấu hình NAT của nó (hình 10).
Câu lệnh để tạo đường hầm SSH từ Linux tới NAS như sau:
 $ ssh -v -p 22 -L 8888:localhost:443 \ username@your.FreeNASorRouter.IP.address

Hình 9. Chương trình Transmission Remote GUI phiên bản cho Windows.
Trong trường hợp không có địa chỉ IP cố định, bạn có thể dùng dịch vụ (miễn phí) DynDNS. Khi đó câu lệnh nói trên có dạng:
$ ssh -v -p 22 -L 8888:localhost:443 username@Name.dyndns.org
Sau khi đường hầm được thiết lập, hãy mở trình duyệt rồi gõ địa chỉ http://localhost:8888/ để truy cập tới giao diện web của máy chủ FreeNAS, tất cả các gói dữ liệu sẽ được mã hóa nhờ giao thức SSH. Tạo đường hầm cho các dịch vụ khác (Samba, FTP) một cách tương tự. Nếu cần tạo đường hầm từ hệ điều hành Windows, bạn có thể tham khảo hướng dẫn ngắn gọn và dễ hiểu trên Kho kiến thức FreeNAS.
Ngoài 3 vấn đề nêu ra, nếu có nhiều người dùng thì cần lưu ý chỉ cho phép khả năng truy cập điều khiển dòng lệnh khi đặc biệt cần thiết. Dùng đường hầm SSH hoặc SFTP thay cho FTP thông thường nếu kết nối từ Internet.
Lời kết
Hình 10: Thiết lập NAT của router cho phép tạo kết nối tới NAS từ Internet
Như vậy, từ một máy tính cũ chúng ta đã biến nó thành một máy chủ NAS có ích, đáp ứng nhu cầu lưu trữ dữ liệu. Tất nhiên là hệ điều hành FreeNAS, tuy chưa đạt phiên bản 1.0, nhưng có rất nhiều tính năng khác, như hỗ trợ các dịch vụ đồng bộ hóa (RSYNC, Unison), dịch vụ máy chủ Web, dịch vụ chia sẻ nhạc iTunes/DAAP, có khả năng theo dõi quá trình làm việc của hệ thống...
Trong quá trình sử dụng bạn sẽ dần hiểu rõ hơn về những tính năng này.
Ngoài giá cả, điểm mạnh hơn của NAS tự làm so với NAS mua sẵn còn có sự mềm dẻo và sự tự do trong lựa chọn phần cứng cũng như phần mềm. Nếu cần tăng tốc độ đọc/ghi, người dùng NAS tự làm có thể thay thế (hoặc thêm) card mạng tốc độ cao. Nhưng đó đã là một câu chuyện khác. Về điểm yếu hơn có thể kể đến kích thước lớn chiếm nhiều không gian, tiếng ồn và công suất sử dụng điện cũng thường cao hơn.
----------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo
1. http://en.wikipedia.org/wiki/Network-attached_storage.
2. http://www.nas-central.org/.
3. Trang chủ FreeNAS. http://freenas.org/.
4. Trang dự án FreeNAS trên sourceforge.net. http://sourceforge.net/projects/freenas/files/.
5. Transmission Remote GUI. http://code.google.com/p/transmisson-remote-gui/.
6. Kho kiến thức FreeNAS: Tạo đường hầm SSH. http://www.freenaskb.info/kb/?View=entry&EntryID=190.
7. Những bài blog của tác giả viết về FreeNAS. http://phanvinhthinh.blogspot.com/search/label/FreeNAS.

Nguon : http://www.pcworld.com.vn

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2015

Hướng dẫn chuyển đổi nhanh kiểu gõ bằng tổ hợp phím "command + space"




Trong quá trình sử dụng hoặc lúc soạn thảo văn bản có đôi lúc bạn sẽ cần chuyển đổi qua lại gữa các kiểu gõ như "US, Telex, VNI". Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn chuyển đổi một cách nhanh chóng mà không cần phải dùng đến trackpad.

1. Các bạn vão System Preferenses và chọn mục Keyboard như hình dưới.

1.
2. Chọn thẻ "Shortcuts" rồi chọn tiếp "Spotlight"
Ở thẻ Spotlight bạn sẽ thấy 2 tuỳ chọn đanh được đánh dấu. Và ở bước này bạn bỏ chọn ở mục thứ nhất "Show Spotlight search field"

2.
3. Các bạn chọn tiếp thẻ "Input Sources". Ở thẻ này các bạn tick chọn vào mục "Select the previous input source"

3.
Tới đây coi như xong. Bây giờ các bạn nhấn thử tổ hợp phím "Command + Space" để xem kết quả nhé!

Chúc các bạn thành công!

Nguồn : maccintosh.vn

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2015

CÁC LỆNH THƯỜNG DÙNG TRÊN LINUX

Tổng hợp các lệnh thường dùng trên Linux

Linux là một hệ điều hành mã nguồn mở được sử dụng rất phổ biến trên các máy chủ do nó có tính ổn định cao, bảo mật tốt và miễn phí. Có một điều thú vị là muốn làm chủ được Linux bạn phải sử dụng thành thạo các lệnh có trên Linux, vì chỉ có sử dụng dòng lệnh (command line) bạn mới can thiệp sâu vào trong hệ thống Linux được. Bài viết nàyThuviencntt sẽ tổng hợp các lệnh thường dùng trên Linux, còn các option chi tiết trong từng lệnh mình sẽ thảo luận ở những bài viết sau.

Tổng hợp các lệnh thường dùng trên Linux

Các lệnh thông dụng trên Linux (CentOS, Redhat)

Các lệnh kiểm tra performance

  • cat /proc/cpuinfo     hiển thị thông tin CPU
  • cat /proc/meminfo     hiển thị thông tin về RAM đang sử dụng
  • cat /proc/version     hiển thị phiên bản của kernel
  • cat /proc/ioports    xem thông tin I/O port
  • cat /proc/interrupts  xem thông tin interrupt
  • cat /proc/dma   xem thông tin về DMA
  • cat /etc/redhat-release  hiển thị phiên bản Centos
  • uname -a  hiển thị các thông tin về kernel
  • free -m     hiển thị lượng RAM còn trống
  • df -h     hiển thị thông tin những file hệ thống nơi mỗi file thường trú hoặc tất cả những file mặc định và lệnh này có thể xem được dung lượng ổ cứng đã sử dụng và còn trống bao nhiêu.
  • du -sh     xem dung lượng của thư mục hiện tại
  • du  -ah    xem chi tiết dung lượng của các thư mục con, và cả các file
  • du -h –max-depth=1     xem dung lượng các thư mục con ở cấp 1 (ngay trong thư mục hiện tại)
  • df   kiểm tra dung lượng đĩa cứng, các phân vùng đĩa
  • top    hiển thị sự hoạt động của các tiến trình, đặc biệt là thông tin về tài nguyên hệ thống và việc sử dụng các tài nguyên đó của từng tiến trình.

Các lệnh hệ thống

  • exit    thoát khỏi cửa sổ dòng lệnh.
  • logout    tương tự exit.
  • reboot / init 6 / shutdow -r    khởi động lại hệ thống.
  • halt / shutdow -h now / init 0 / poweroff     tắt máy
  • hostname  xem tên máy tính
  • startx    khởi động chế độ xwindows từ cửa sổ terminal.
  • clear    xoá trắng cửa sổ dòng lệnh.
  • hwclock    Fix lịch của bios
  • cal    xem lịch hệ thống.
  • yum update –y    Update Linux (CentOS)
  • date    xem ngày, giờ hệ thống.
  • date –s “27 SEP 2011 14:26:00”     Đặt ngày giờ hệ thống theo string
  • date +%Y%m%d -s “20130318″  đặt ngày hệ thống (không thay đổi giờ)
  • date +%T -s “00:29:00″  đặt giờ hệ thống, không thay đổi ngày

Lệnh thao tác với tập tin text

  •   wc    đếm số dòng, số kí tự… trong tập tin
  • touch    tạo một tập tin.
  •   cat    xem nội dung tập tin.
  •   more  xem nội dung tập tin theo trang.
  •    less  xem nội dung tập tin theo dòng.
  •   tail  xem nội dung tập tin (mặc định xem 10 dòng cuối).
  •    head  xem nội dung tập tin (mặc định xem 10 dòng đầu).
  •    vi    khởi động trình soạn thảo văn bản vi.
  •    man    Xem hướng dẫn thực hiện các lệnh

Lệnh quản lí ứng dụng và tiến trình

  •     rpm     kiểm tra, gỡ bỏ hoặc cài đặt 1 gói .rpm
  •     ps    kiểm tra hệ thống tiến trình đang chạy.
  •     kill    dừng tiến trình khi tiến trình bị treo.
  •     pstree    hiển thị tất cả các tiến trình dưới dạng cây.
  •     sleep    cho hệ thống ngừng hoạt động trong một khoảng thời gian.
  •     yum    Cài đặt các ứng dụng đóng gói (giống rpm)
  •     wget    Tải các ứng dụng từ một website về
  •     sh    Chạy một ứng dụng có đuôi .sh

Lệnh quản lý user

  •    useradd    tạo một người dùng mới.
  •   userdel    xoá người dùng đã tạo.
  •    usermod   thay đổi thông tin user.
  •   passwd   đặt và thay đổi password cho người dùng.
  •     groupadd    tạo một nhóm người dùng mới.
  •     groupdel    xoá nhóm người dùng đã tạo.
  •     gpasswd     thay đổi password của một nhóm người dùng.
  •     su     cho phép đăng nhập với tư cách người dùng khác.
  •     groups     hiển thị nhóm của user hiện tại.
  •     who / w    cho biết ai đang đăng nhập hệ thống.
  •     skill -9 –t pst/0    để gỡ bỏ session pst/0
  •     xem danh sách user: #vi /etc/passwd
  •     xem danh sách nhóm: #vi /etc/group
  •     chmod <permission> [tên file]   thay đổi quyền cho file/thư mục (chỉ user sở hữu file mới thực hiện được)
  •     chown user [tên file]   thay đổi chủ sở hữu file/thư mục
  •     chown user:group [tên file]  thay đổi chủ sở hữu file/thư mục, đồng thời thay đổi nhóm sở hữu
  • chgrp group [file/thu_muc] thay đổi group sở hữu file/thư mục

Lệnh quản lý service

  •     service –status-all    Kiểm tra tất cả các service và tình trạng của nó.
  •     service httpd start    khởi động dịch vụ httpd.
  •     whereis mysql    hiển thị nơi các file dịch vụ được cài đặt.
  •     service –status-all | grep abc, xem tình trạng của tiến trình abc
  •     service <tên_dịch_vụ> start | stop | restart
  •     /etc/init.d/<tên_dịch_vụ>  start | stop | restart
Ví dụ:
o    service mysql stop
o    /etc/init.d/mysqld start

Các lệnh quản lý file và thư mục

  • ls      xem danh sách các file và thư mục con trong thư mục hiện thời
  • ls -l   như trên, nhưng liệt kê cả kích thước file, ngày cập nhật…
  • ls -a   liệt kê tất cả các file ẩn
  • rm    xóa file
  • rmdir   xóa thư mục rổng
  • rm -rf       xóa thư mục không rỗng.
  • mv    đổi tên / di chuyển thư mục hoặc file từ nơi này sang nơi khác
  • cp   copy file hoặc thư mục
  • mkdir   tạo thư mục
  • cd   chuyển thư mục
  • pwd  xem thư mục hiện hành
  • find  tìm kiếm file
  • find  /etc  -name  inittab : tìm file có tên inittab trong thư mục /etc

Lệnh nén và giải nén

  • tar  -cvf    nén file/thư mục sang định dạng .tar
  • tar  -xvf    giải nén file .tar
  • gzip chuyển file .tar sang .tar.gz
  • gunzip chuyển file .tar.gz về .tar
  • tar -xzf  giải nén file  .tar.gz
  • tar -zxvf  giải nén file .tar.bz2
  • tar -jxvf   giải nén file .tar.gz2
Bài viết này với mục đích tổng hợp các lệnh các trên Linux, do đó có nhiều lệnh mình không cho ví dụ chi tiết cho từng option chi tiết. Để xem chi tiết các cách dùng các lệnh bạn dùng lệnh man <ten_lenh>. Nếu có lệnh nào cho rõ các bạn có thể đưa câu hỏi để chúng ta cùng thảo luận.

CÀI ĐẶT SONG SONG MAC VỚI UBUNTU

CÀI ĐẶT SONG SONG MAC VỚI UBUNTU


Cài đặt rEFInd

ĐIỀU LIÊN QUAN
Làm thế nào để cài đặt Windows trên máy Mac với Boot Camp
Nhờ sự chuyển đổi từ PowerPC đến Intel nhiều năm trước đây, một máy Mac chỉ là một máy tính khác. Mac đi kèm với ... [Read Điều]
rEFInd là một quản lý khởi động mà sẽ cho phép bạn lựa chọn giữa Mac OS X, Linux, Windows, và hệ điều hành khác khi bạn khởi động máy tính của bạn. Cài đặt rEFInd làm cho quá trình khởi động kép dễ dàng hơn.(Một số lớn tuổi như thế nào-to là sẽ hướng dẫn bạn sử dụng rEFIt, nhưng nó không còn được duy trì. REFInd là một quản lý khởi động hiện đang duy trì dựa trên rEFIt.)
Mã hóa toàn bộ ổ ​​đĩa gây ra vấn đề với rEFIt, vì vậy bạn sẽ cần phải vô hiệu hóa mã hóa toàn bộ ổ ​​đĩa hoặc làm một số công việc phụ trước khi cài đặt rEFInd.
Đầu tiên, truy cập vào các trang rEFInd trên SourceForge và nhấn nút Download để tải về [version] .zip tập refind-BIN mới nhất. Mở một cửa sổ Terminal bằng cách nhấn Ctrl + Space và gõ đầu cuối , và nhấn Enter. Kéo và thả các tập tin install.sh từ file zip tải về vào cửa sổ terminal và nhấn Enter để chạy nó.
cài đặt-rEFInd-on-mac
Shut down máy Mac của bạn - một đóng đầy đủ xuống, không phải là một khởi động lại - và khởi động nó lại lên một lần nữa. Bạn sẽ thấy màn hình khởi động quản lý rEFInd.
cài đặt-rEFInd-on-mac-cho-linux

Phân vùng Mac của bạn

Bây giờ bạn sẽ cần phải thay đổi kích thước phân vùng hệ thống Mac OS X của bạn để làm cho căn phòng để phân phối Linux của bạn lựa chọn. Từ bên trong Mac OS X, nhấn Command + Space, gõ Disk Utility, và nhấn Enter để mở Disk Utility. Chọn ổ đĩa cứng của máy Mac của bạn trong danh sách các phân vùng bên trái và chọn ở bên phải.
thay đổi kích cỡ-mac-os-x-partition-để-làm-phòng-cho-ubuntu-linux
ĐIỀU LIÊN QUAN
Beginner Geek: Phân vùng ổ đĩa Giải thích
đĩa cứng, ổ đĩa USB, thẻ SD - bất cứ điều gì với không gian lưu trữ phải được phân vùng. Một ổ đĩa chưa phân vùng không thể được sử dụng ...[Read Điều]
Thu nhỏ X Mac OS hiện tại phân vùng để tạo không gian cho hệ thống Linux của bạn. Bao nhiêu không gian bạn muốn cho Linux là tùy thuộc vào bạn. Yêu cầu hệ thống Ubuntu nói rằng nó đòi hỏi ít nhất 5 GB không gian, nhưng một cái gì đó giống như 20 GB là hợp lý hơn nhiều. Kéo và thả tay cầm vào khối lượng phân vùng hoặc nhập kích thước cuối cùng cho phân vùng đó và nhấp vào phân vùng để phân vùng đó.
Đừng tạo ra một phân vùng mới sau khi thu hẹp phân vùng hiện tại của bạn - chỉ để lại các không gian trống.
mac-os-x-system-với-phòng-cho-ubuntu-linux

Boot và cài đặt Linux

Bạn sẽ cần Linux cài đặt để tiếp tục. Ví dụ, nếu bạn đang sử dụng Ubuntu, bạn sẽ cần phải tải về một tập tin ISO Ubuntu - tải về các phiên bản "64-bit Mac". Burn ISO vào đĩa hoặc làm theohướng dẫn chính thức của Ubuntu để tạo ra một ổ đĩa USB khả năng khởi động từ tập tin ISO.
tạo khả năng khởi động-ubuntu-usb-lái-on-mac
Khởi động lại máy tính của bạn và rEFInd sẽ xuất hiện. Chọn ổ đĩa USB hoặc đĩa chứa hệ thống Linux và khởi động nó trên máy Mac của bạn.
cài đặt-linux-từ-usb-với-rEFInd-boot-manager
Khởi động trình cài đặt bản phân phối Linux của bạn và đi qua quá trình cài đặt. Trên Ubuntu, khởi động ứng dụng Ubuntu Cài đặt từ máy tính để bàn và cài đặt Ubuntu như bình thường. Hãy chắc chắn để chọn "Cài đặt Ubuntu song song với Mac OS X" tùy chọn thay vì ghi đè hệ thống Mac OS X của bạn với Ubuntu. Quá trình cài đặt nếu không phải là bình thường.
cài đặt-ubuntu-linux-cùng-mac-os-x
Bất cứ khi nào bạn khởi động máy tính của bạn, bạn sẽ có khả năng để lựa chọn giữa Mac OS X và Linux trên màn hình quản lý khởi động rEFInd.
boot-linux-on-mac-với-rEFInd-boot-manager
Tùy thuộc vào máy Mac của bạn, một số thành phần phần cứng có thể không làm việc hoàn hảo trên Linux. Điều này phụ thuộc vào phiên bản của Linux bạn sử dụng, làm thế nào gần đây nó là gì, và phần cứng Mac bạn đang sử dụng. Nếu một cái gì đó không làm việc, bạn có thể phải thực hiện một số tìm kiếm Google với mô hình và năm của Mac của bạn cũng như tên và phiên bản của phân phối Linux bạn đang sử dụng. Các thành viên khác có thể xử lý các vấn đề tương tự trước khi bạn, và họ đã có thể bằng văn bản hướng dẫn để làm việc tất cả mọi thứ.

Làm thế nào để Hủy bỏ Linux và rEFInd

ĐIỀU LIÊN QUAN
Làm thế nào để Cài đặt lại hệ điều hành X trên máy Mac của bạn, Wipe Drive của bạn, và tạo cài đặt USB Media
Mac có thể tự động tải về và cài đặt lại hệ điều hành của họ. Quá trình này thường giữ các tập tin cá nhân của bạn, nhưng bạn có thể chọn ...[Read Điều]
Nếu bạn quyết định bạn không còn muốn khởi động kép Linux trên máy Mac của bạn, bạn có thể loại bỏ Linux khá dễ dàng. Khởi động vào OS X, mở Disk Utility, và xóa các phân vùng Linux của bạn. Bạn cũng có thể khởi động từ USB Linux phương tiện truyền thông của bạn và sử dụng quản lý phân vùng GParted để loại bỏ các phân vùng. Sau khi phân vùng bị xóa, bạn có thể phóng to phân vùng Mac OS X của bạn sau đó từ Disk Utility trong OS X để đòi lại không gian sử dụng cho Linux.
Nếu bạn cài đặt Linux là hệ điều hành duy nhất và thay thế Mac OS X, bạn sẽ cần phải cài đặt lại hệ điều hành X trên máy Mac của bạn nếu bạn muốn để lại đằng sau Linux.
Để loại bỏ các trình quản lý khởi động rEFInd, hãy làm theo hướng dẫn gỡ bỏ rEFInd của . Bạn không cần phải loại bỏ rEFInd - Mac của bạn sẽ tiếp tục làm việc tốt với rEFInd cài đặt ngay cả khi bạn loại bỏ Linux.

Các bit rEFInd là không bắt buộc, nhưng bạn sẽ phải thực hiện tinh chỉnh khác để làm cho Linux khởi động đúng trên một máy Mac nếu bạn chọn để không sử dụng rEFInd. Trong khi Apple làm cho việc cài đặt Windows dễ dàng thông qua Boot Camp, họ không cung cấp bất kỳ giải pháp đơn giản để cài đặt Linux.